Một số khó khăn trong công tác kiểm tra văn bản trong Khu vực
Sign In
  • * Chào mừng Quý vị và các bạn đến với Trang thông tin điện tử Cục Công tác phía Nam, Bộ Tư pháp *

Nghiên cứu trao đổi kinh nghiệm

Một số khó khăn trong công tác kiểm tra văn bản trong Khu vực

Trong quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền, bên cạnh công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, công tác kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật cũng góp phần đặc biệt quan trọng, nhằm kịp thời phát hiện, xử lý các văn bản sai phạm, tạo hành lang pháp lý an toàn, quản lý hiệu quả nền kinh tế - xã hội. Hiện nay công tác này được điều chỉnh bởi Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân năm 2004, Nghị định số 40/2010/NĐ-CP ngày 12/4/2010 của Chính phủ về kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật, Thông tư số 20/2010/TT-BTP ngày 30/11/2010 của Bộ Tư pháp quy định chi tiết thi hành một số điều của Nghị định số 40/2010/NĐ-CP.

        Công tác kiểm tra văn bản thời gian qua đã đi vào nề nếp, có hệ thống, toàn diện, có chiều sâu, gắn với hoạt động rà soát, hệ thống hóa văn bản. Trong năm 2015, 25 tỉnh thành khu vực phía Nam đã tiến hành kiểm tra 2.468 văn bản, trong đó, văn bản tự kiểm tra là 1.117, kiểm tra theo thẩm quyền 1.351 văn bản. Qua kiểm tra đã phát hiện 297 văn bản có sai sót, chiếm khoảng 12%, chủ yếu là các văn bản ở cấp huyện (236 văn bản). Các văn bản này đều được các cơ quan ban hành kiểm tra lại và tự xử lý kịp thời, theo quy định. Nhìn chung, công tác kiểm tra, xử lý văn bản tại Khu vực đã đạt được những kết quả nhất định, góp phần tích cực trong việc đảm bảo tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất của hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, từng bước lập lại kỷ cương, nâng cao chất lượng công tác soạn thảo, ban hành văn bản của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân các cấp. Bên cạnh đó, qua quá trình thực hiện, công tác kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật cũng vướng phải một số khó khăn, vướng mắc cần được tháo gỡ.
          Khó khăn về đội ngũ cán bộ, công chức
Kiểm tra, xử lý văn bản là công việc phức tạp, khó khăn, việc xử lý văn bản đòi hỏi phải có chuyên môn sâu và có bản lĩnh nghề nghiệp, trong khi đội ngũ công chức tư pháp một số đơn vị cấp xã còn hạn chế về nghiệp vụ, lúng túng trong việc phân biệt giữa văn bản quy phạm pháp luật và văn bản hành chính cá biệt; chưa có kinh nghiệm trong việc kiến nghị biện pháp xử lý văn bản, việc bồi dưỡng, tập huấn nâng cao năng lực cho công chức chưa được thực hiện thường xuyên và hiệu quả; chính sách, chế độ thu hút, đãi ngộ cho đội ngũ làm công tác văn bản còn hạn chế, chưa khuyến khích được cán bộ toàn tâm, toàn lực với công việc.
        Bên cạnh đó, biên chế cho công tác văn bản còn thiếu, công chức tư pháp ở các cấp thực hiện kiêm nhiệm nhiều nhiệm vụ, ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng công việc. Tại Sở Tư pháp, Phòng xây dựng và kiểm tra văn bản thường kiêm luôn công tác pháp chế và công tác hỗ trợ pháp lý doanh nghiệp nên khối lượng công việc nhiều. Tại Phòng Tư pháp, biên chế bình quân trong Khu vực chưa được 05 biên chế, hiện nay có Phòng Tư pháp chỉ được bố trí được 02 biên chế hoặc 03 biên chế (Phòng Tư pháp huyện Phú Quý tỉnh Bình Thuận có 02 biên chế, Phòng Tư pháp huyện Chợ Mới tỉnh An Giang có 03 biên chế…).
         Khó khăn khi áp dụng luật
        Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 bắt đầu có hiệu lực từ ngày 01/7/2016 và chưa có Nghị định hướng dẫn thi hành. Do đó, hiện nay thể chế phục vụ công tác kiểm tra, xử lý văn bản vẫn là Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008 và Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân năm 2004, Nghị định số 40/2010/NĐ-CP và Thông tư số 20/2010/TT-BTP, trong khi những văn bản này đã bộc lộ một số khiếm khuyết, như: Quy định về khái niệm “văn bản quy phạm pháp luật” thiếu tính cụ thể, dễ bị hiểu và áp dụng khác nhau; chưa quy định thời hạn cụ thể để kiểm tra đối với một văn bản, việc kiểm tra, xử lý đối với văn bản ban hành không theo trình tự, thủ tục; chưa hướng dẫn cụ thể về việc xem xét trách nhiệm, xử lý đối với cán bộ, công chức trong việc tham mưu, soạn thảo, thẩm định, trình, thông qua và ký ban hành văn bản trái pháp luật…
         Hiện nay, tại Khu vực, trong số 297 văn bản được thống kê là trái pháp luật, có 116 văn bản sai sót về thể thức, kỹ thuật trình bày, chiếm tỷ lệ khá lớn (40%). Điều này đã gây bức xúc cho xã hội, mặc dù với những lỗi rất nhỏ, có thể hiệu chính được, như: ghi ký hiệu văn bản sai, ghi sai nơi ban hành văn bản khi tên huyện, thị xã trùng tên tỉnh… Đồng thời, việc kiểm tra đối với các văn bản chuyên ngành cần kiến thức chuyên sâu để có thể kiểm tra chính xác về tính pháp lý của nội dung văn bản. Trong khi đó, công chức làm công tác kiểm tra chủ yếu chỉ có chuyên ngành pháp luật nên đôi khi việc kiểm tra chỉ chú trọng vào hình thức, căn cứ pháp lý, thẩm quyền ban hành văn bản mà chưa đi sâu vào nội dung, chỉ khi văn bản được thực hiện trên thực tế, gặp nhiều bắt cập và được các đối tượng áp dụng phản ánh thì mới phát hiện ra sai sót. Tình trạng này làm giảm đi tính hiệu quả của công tác kiểm tra văn bản, gây một số hậu quả đáng tiếc khi triển khai văn bản trên thực tế.
        Cơ chế phối hợp giữa Sở Tư pháp với các Sở ngành địa phương trong quá trình soạn thảo, thẩm định, ban hành, kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật còn chưa được chú trọng, dẫn đến hiệu quả của công tác này chưa cao. Một số địa phương chưa chú trọng việc kiểm tra theo thẩm quyền. Các cơ quan khi ban hành văn bản chưa gửi đầy đủ cho Sở Tư pháp để kiểm tra. Việc kiểm tra văn bản đôi khi còn chậm, chưa tiến hành kịp thời, việc xử lý văn bản trái pháp luật của cấp huyện, xã còn thụ động, chưa thông tin, phản hồi kịp thời đến cơ quan kiểm tra theo thẩm quyền sau khi có kết quả kiểm tra. Trong kiểm tra, xử lý văn bản trái pháp luật còn tình trạng nể nang, dè dặt, né tránh, ngại va chạm, dẫn đến một số văn bản trái pháp luật không được kiểm tra hoặc có kiểm tra nhưng không được xử lý triệt để theo quy định, dẫn đến tác động tiêu cực, làm giảm hiệu quả công tác kiểm tra văn bản.
      Thực tế hiện nay cho thấy rất khó kiểm tra đối với văn bản có chứa quy phạm pháp luật nhưng không được ban hành bằng hình thức văn bản quy phạm pháp luật; văn bản có chứa quy phạm pháp luật hoặc có thể thức và nội dung như văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan, người không có thẩm quyền tại Bộ, ngành và địa phương ban hành. Đây không phải là văn bản quy phạm pháp luật, không theo quy trình xây dựng, góp ý, thẩm định và không được gửi về các cơ quan có thẩm quyền để kiểm tra nên rất khó kiểm soát. Thông thường chỉ sau khi được ban hành, thực hiện, gây bức xúc cho người dân hoặc được phản ánh thì cơ quan có thẩm quyền mới biết để kiểm tra và xử lý.
       Ngoài ra, văn bản quy phạm pháp luật do các cơ quan ở Trung ương ban hành còn chồng chéo, mâu thuẫn, gây khó khăn cho việc kiểm tra, rà soát văn bản ở địa phương. Ví dụ: Sự chồng chéo trong công tác quản lý trật tự xây dựng giữa lực lượng quản lý trật tự đô thị của các quận, huyện; xã, phường với Thanh tra Sở Xây dựng; Về mức phạt tiền: Theo quy định tại điểm b, khoản 1, Điều 38 Luật Xử lý vi phạm hành chính thì thẩm quyền của Chủ tịch UBND cấp xã “Phạt tiền đến 10% mức tiền phạt tối đa đối với lĩnh vực tương ứng quy định tại ĐIều 24 của Luật này nhưng không quá 5.000.000 đồng” và tại điểm b, khoản 2 Điều 38 Luật Xử lý vi phạm hành chính về thẩm quyền của Chủ tịch UBND cấp huyện “Phạt tiền đến 50% mức tiền phạt tối đa đối với lĩnh vực tương ứng quy định tại Điều 24 của Luật này nhưng không quá 50.000.000 đồng”. Tuy nhiên, khoản 2, Điều 67 Nghị định số 121/2013/NĐ-CP quy định Chủ tịch UBND cấp xã có quyền “Phạt tiền đến 10.000.000 đồng” và khoản 2 Điều 68 Nghị định số 121/2013/NĐ-CP thì Chủ tịch UBND cấp huyện có quyền “Phạt tiền đến 100.000.000 đồng”…
         Một số kiến nghị:
       Công tác kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật khá phức tạp, đòi hỏi kinh nghiệm và nghiệp vụ chuyên sâu. Do đó, để công tác này được hiệu quả, thiết nghĩ các Bộ, ngành và địa phương cần tiến hành đồng bộ một số công việc sau:
      Thứ nhất, về thể chế: Trước khi Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực vào ngày 01/7/2016, cần nhanh chóng ban hành Nghị định hướng dẫn có hiệu lực cùng thời gian với Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật để địa phương dễ áp dụng và thực hiện. Nghị định này cần quy định một cách chi tiết, đầy đủ, dễ hiểu, dễ áp dụng cho các cán bộ, công chức thực hiện công tác kiểm tra, xử lý văn bản, trong đó quan tâm hơn đến một số nội dung như: chú trọng kiểm tra nội dung văn bản; quy định về thời gian tiến hành kiểm tra văn bản, đảm bảo văn bản được kiểm tra trước khi có hiệu lực thi hành; thời gian xử lý văn bản sau kiểm tra của cơ quan có thẩm quyền; quy định về trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan ban hành văn bản trái pháp luật; công khai kết quả kiểm tra, xử lý của cơ quan có thẩm quyền kiểm tra, xử lý văn bản…
         Thứ hai, về công tác tổ chức, cán bộ: Trong bối cảnh tinh giản biên chế và bộ máy hành chính nhà nước, cần sắp xếp, bố trí biên chế công chức và công việc cho hợp lý, hiệu quả, có sự gắn kết với các công tác xây dựng, thẩm định, rà soát, hệ thống hóa văn bản, theo dõi thi hành pháp luật, kiểm soát thủ tục hành chính để các công việc này hỗ trợ, gắn kết về mặt chuyên môn. Bên cạnh đó, tăng cường nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác này, cần có công chức chuyên trách, thường xuyên được bồi dưỡng, tập huấn về nghiệp vụ chuyên môn, và kỹ năng trình bày văn bản. Ngoài ra, cần xây dựng đội ngũ cộng tác viên kiểm tra văn bản là các chuyên gia, người có kinh nghiệm trong công tác pháp luật và trong các lĩnh vực chuyên ngành. Đây là đội ngũ hỗ trợ tích cực giúp công tác kiểm tra văn bản được nâng cao cả về chiều rộng và chiều sâu.
        Thứ ba, trong quá trình triển khai thực hiện: Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, nhất là công tác nhập dữ liệu, tra cứu phần mềm cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật, từ đó làm cơ sở để tra cứu các văn bản là cơ sở pháp lý cho văn bản được kiểm tra. Các địa phương cũng cần tuyên truyền nhận thức về vai trò của công tác kiểm tra, xử lý văn bản cho các sở, ban, ngành; Chú trọng, chủ động trong công tác tự kiểm tra cũng như kiểm tra theo thẩm quyền; Theo dõi, đôn đốc sát sao tiến độ, kết quả xử lý văn bản sau khi kiểm tra./.