Nghị định 81/2013/NĐ-CP - Một số vấn đề cần sửa đổi
Sign In
  • * Chào mừng Quý vị và các bạn đến với Trang thông tin điện tử Cục Công tác phía Nam, Bộ Tư pháp *

Nghiên cứu trao đổi kinh nghiệm

Nghị định 81/2013/NĐ-CP - Một số vấn đề cần sửa đổi

Trong thời gian qua, pháp luật về xử lý vi phạm hành chính đã được triển khai thực hiện nghiêm túc, góp phần quan trọng trong việc phòng ngừa, ngăn chặn và xử lý nghiêm minh mọi hành vi vi phạm pháp luật hành chính. Nhận thức của các tổ chức, cá nhân được nâng cao, tăng cường trật tự, kỷ cương trong quản lý xã hội, bảo vệ lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Hiện nay, công tác xử lý vi phạm hành chính chịu sự điều chỉnh của Luật Xử lý vi phạm hành chính, Nghị định số 81/2013/NĐ-CP ngày 19/7/2013 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Xử lý vi phạm hành chính (Nghị định số 81/2013/NĐ-CP) và các Nghị định xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực chuyên ngành. Với tư cách là Nghị định khung, nền cho công tác xử lý vi phạm hành chính, sau 03 năm thực hiện, Nghị định số 81/2013/NĐ-CP đã thể hiện bất cập cần sửa đổi, bổ sung để nâng cao hiệu quả quản lý của nhà nước, trong đó nổi lên một số vấn đề sau:

         Đối tượng xử phạt chưa rõ ràng
         Tại Điều 1 Nghị định số 81/2013/NĐ-CP có nêu đối tượng bị xử phạt vi phạm hành chính là cá nhân và tổ chức mà chưa quy định về các tiêu chí xác định đối tượng vi phạm hành chính là tổ chức. Bên cạnh đó, xử phạt vi phạm hành chính chỉ áp dụng đối với cá nhân, tổ chức, không áp dụng đối với hộ gia đình. Nhưng theo Nghị định 102/2014/NĐ-CP ngày 10/11/2014 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai thì trường hợp hộ gia đình, cộng đồng dân cư vi phạm thì bị xử lý như đối với cá nhân. Trên thực tế trong lĩnh vực xây dựng, hộ gia đình vi phạm rất nhiều nhưng không có quy định cụ thể nên các cơ quan tham mưu lúng túng trong việc xác định chủ thể vi phạm là vợ hay chồng hay cả hai vợ, chồng hay là hộ gia đình.
         Thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành chính:
          Khoản 2 Điều 6 Nghị định số 81/2013/NĐ-CP quy định: “Người có thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành chính quy định tại Khoản 1 Điều này chỉ có quyền lập biên bản về những vi phạm thuộc phạm vi thi hành công vụ, nhiệm vụ được giao và chịu trách nhiệm về việc lập biên bản”. Trên thực tế, có những vụ việc vi phạm khi được phát hiện có thể bao gồm nhiều hành vi vi phạm hành chính thuộc các lĩnh vực quản lý khác nhau, người có thẩm quyền lập biên bản phải tiến hành lập biên bản vi phạm hành chính đối với tất cả các hành vi vi phạm liên quan đến vụ việc để bảo đảm nguyên tắc “mọi hành vi vi phạm phải được phát hiện, ngăn chặn kịp thời” (quy định tại điểm a khoản 1 Điều 3 Luật XLVPHC), sau đó, biên bản phải được chuyển ngay đến người có thẩm quyền xử phạt để tiến hành xử phạt theo quy định tại khoản 3 Điều 58 Luật XLVPHC. Ngoài ra, trên thực tế có tình trạng sau khi biên bản được chuyển đến, người có thẩm quyền xử phạt không ban hành quyết định xử phạt, dẫn đến việc thi hành pháp luật và xử lý hành vi vi phạm chưa được nghiêm minh.
          Do vậy, có thể bổ sung quy định về các trường hợp sau:
          - Nếu vụ việc vi phạm chỉ có một hoặc một số hành vi vi phạm thuộc một lĩnh vực quản lý nhà nước thì việc lập biên bản vi phạm hành chính đối với hành vi vi phạm phải do người có thẩm quyền lập biên bản được quy định tại nghị định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý nhà nước lập.
          - Nếu vụ việc vi phạm có nhiều hành vi vi phạm thuộc các lĩnh vực quản lý nhà nước khác nhau thì người có thẩm quyền lập biên bản phát hiện ra vụ việc đó phải tiến hành lập biên bản vi phạm hành chính đối với tất cả các hành vi vi phạm liên quan đến vụ việc và chuyển ngay đến người có thẩm quyền xử phạt để tiến hành xử phạt theo quy định tại khoản 3 Điều 58 Luật XLVPHC.
- Bổ sung cơ chế khiếu nại, xử lý trách nhiệm người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính không ban hành quyết định xử phạt, ban hành quyết định xử phạt không kịp thời sau khi nhận được biên bản vi phạm hành chính và có đầy đủ cơ sở ban hành quyết định xử phạt.
          Về việc áp dụng hình thức xử phạt bổ sung tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính:
          Theo quy định tại khoản 2 Điều 3 Nghị định thì việc quy định tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính đối với hành vi vi phạm hành chính phải trên cơ sở các căn cứ sau đây: (i) Vi phạm nghiêm trọng được thực hiện do lỗi cố ý; (ii) Vật, tiền, hàng hóa, phương tiện là tang vật trực tiếp của vi phạm hành chính hoặc được trực tiếp sử dụng để thực hiện hành vi vi phạm hành chính, mà nếu không có vật, tiền, hàng hóa, phương tiện này, thì không thể thực hiện được hành vi vi phạm. Quy định như Nghị định hiện hành đã dẫn đến các cách hiểu và áp dụng khác nhau: (i) Có ý kiến cho rằng, người có thẩm quyền xử phạt chỉ áp dụng hình thức xử phạt tịch thu đối với hành vi vi phạm hành chính tại các nghị định quy định xử phạt vi phạm hành chính khi chứng minh được lỗi cố ý của cá nhân, tổ chức vi phạm; (ii) Có ý kiến cho rằng, việc áp dụng tịch thu căn cứ theo quy định của nghị định xử phạt vi phạm hành chính, nghĩa là nghị định có quy định áp dụng hình thức xử phạt tịch thu đối với hành vi vi phạm hành chính thì mặc nhiên áp dụng hình thức xử phạt đó, không đặt ra vấn đề chứng minh lỗi cố ý của cá nhân, tổ chức vi phạm.
Do đó, cần bổ sung quy định: Việc áp dụng hình thức xử phạt bổ sung tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính đối với vi phạm hành chính được thực hiện khi nghị định quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong các lĩnh vực có quy định cụ thể hình thức xử phạt này đối với hành vi vi phạm hành chính cụ thể.
          Việc xác định giá trị tang vật vi phạm hành chính là hàng cấm
          Điều 60 Luật XLVPHC khó thực hiện đối với một số trường hợp tang vật vi phạm hành chính là hàng cấm (pháo nổ, đồ chơi bạo lực; thực vật rừng, động vật rừng thuộc Phụ lục của Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp như: ngà voi, sừng tê giác; phế liệu nhập khẩu gây ô nhiễm môi trường…) do các mặt hàng này không phổ biến hoặc không được phép lưu thông, mua bán trên thị trường để Hội đồng định giá có thể tham khảo giá.
          Có thể bổ sung quy định hướng dẫn việc xác định giá trị của hàng cấm. Theo đó, đối với tang vật vi phạm hành chính là hàng cấm thì người có thẩm quyền đang giải quyết vụ việc không phải xác định giá trị tang vật. Trường hợp người có thẩm quyền đang giải quyết vụ việc là chức danh có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính cao nhất trong lĩnh vực quản lý thì người đó ra quyết định tạm giữ tang vật và tiếp tục tiến hành các thủ tục xử phạt vi phạm hành chính. Trường hợp người có thẩm quyền đang giải quyết vụ việc không phải là chức danh có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính cao nhất trong lĩnh vực quản lý thì người đó ra quyết định tạm giữ tang vật, sau đó chuyển vụ việc vi phạm cho người có thẩm quyền xử phạt cao nhất.
          Về việc bảo quản tang vật, phương tiện sau khi hết thời hạn tạm giữ:
          Khoản 4 Điều 126 Luật XLVPHC quy định: “Đối với tang vật, phương tiện vi phạm hành chính quá thời hạn tạm giữ nếu người vi phạm không đến nhận mà không có lý do chính đáng hoặc trường hợp không xác định được người vi phạm thì người ra quyết định tạm giữ phải thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng và niêm yết công khai tại trụ sở cơ quan của người có thẩm quyền tạm giữ; trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày thông báo, niêm yết công khai, nếu người vi phạm không đến nhận thì người có thẩm quyền phải ra quyết định tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính để xử lý theo quy định tại Điều 82 của Luật này”. Quy định nêu trên chưa thể hiện rõ ai là người có trách nhiệm bảo quản tang vật, phương tiện sau khi hết thời hạn tạm giữ (trong thời gian thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng và niêm yết công khai tại trụ sở cơ quan của người có thẩm quyền tạm giữ và thời gian 30 ngày, kể từ ngày thông báo, niêm yết công khai).
          Do vậy, cần bổ sung quy định cụ thể hóa Khoản 4 Điều 126 Luật XLVPHC theo hướng: Đối với tang vật, phương tiện vi phạm hành chính đã quá thời hạn tạm giữ nếu người vi phạm không đến nhận mà không có lý do chính đáng hoặc trường hợp không xác định được người vi phạm thì người ra quyết định tạm giữ vẫn phải có trách nhiệm bảo quản tang vật, phương tiện đó trong thời gian thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng và niêm yết công khai tại trụ sở cơ quan của người có thẩm quyền tạm giữ. Trường hợp sau thời hạn 30 ngày, kể từ ngày thông báo cuối cùng trên các phương tiện thông tin đại chúng và niêm yết công khai, nếu người vi phạm không đến nhận thì người ra quyết định tạm giữ vẫn tiếp tục bảo quản tang vật, phương tiện đó và phải ra quyết định tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính để xử lý theo quy định tại Điều 82 của Luật XLVPHC.
         Về thẩm quyền tịch thu tang vật, phương tiện đối với tổ chức vi phạm hành chính:
          Khoản 1 Điều 52 Luật XLVPHC quy định thẩm quyền xử phạt tiền đối với tổ chức gấp 02 lần đối với cá nhân, trong khi đó, thẩm quyền tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính lại được xác định theo mức tiền phạt (được quy định đối với cá nhân vi phạm hành chính). Do Luật XLVPHC chưa quy định rõ về thẩm quyền tịch thu tang vật, phương tiện đối với tổ chức vi phạm hành chính nên hiện nay có hai cách hiểu và áp dụng khác nhau: (i) Thẩm quyền tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính đối với hành vi vi phạm hành chính của tổ chức được xác định theo giá trị tang vật, phương tiện và bằng mức phạt tiền áp dụng đối với hành vi vi phạm hành chính của cá nhân; (ii) Thẩm quyền tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính được xác định như thẩm quyền phạt tiền, tức là, thẩm quyền tịch thu tang vật, phương tiện đối với tổ chức vi phạm hành chính cũng gấp 02 lần đối với cá nhân vi phạm hành chính.
          Một số vấn đề chưa được quy định
          Hiện nay chưa có quy định về thời điểm người ra quyết định cưỡng chế phải tổ chức thực hiện việc cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính. (Điều 88) , các vấn đề liên quan đến việc xử phạt vi phạm hành chính của chức danh Trưởng đoàn thanh tra như: việc xác định thời điểm thực hiện thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của chức danh Trưởng đoàn thanh tra; xử lý trường hợp quyết định xử phạt vi phạm hành chính của Trưởng đoàn thanh tra bị khiếu nại, khởi kiện sau khi kết thúc thanh tra; việc sử dụng con dấu của thanh tra viên, Trưởng đoàn Thanh tra… Nghị định số 81/2013/NĐ-CP cũng cần bổ sung hướng dẫn cụ thể thủ tục tiếp nhận và chuyển hóa các thông tin, hình ảnh về hành vi vi phạm được phát hiện từ phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ để phục vụ cho việc xử phạt vi phạm hành chính.
Luật Xử lý vi phạm hành chính và Nghị định số 81/2013/NĐ-CP chưa có quy định cụ thể về việc xác định thế nào là “hành vi vi phạm hành chính đã kết thúc”, “hành vi vi phạm hành chính đang được thực hiện” (quy định tại điểm b khoản 1 Điều 6 của Luật XLVPHC), “vụ việc đặc biệt nghiêm trọng, có nhiều tình tiết phức tạp” (Điều 66 Luật XLVPHC), “cố tình trốn tránh, trì hoãn” và “thời điểm chấm dứt hành vi trốn tránh, trì hoãn” (Điều 74 Luật XLVPHC)…
           Bên cạnh đó, các biểu mẫu ban hành kèm theo Nghị định số 81/2013/NĐ-CP cũng còn một số bất cập, như: Mẫu biểu MQĐ 08 về quyết định áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả đối với các trường hợp không ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính. Tuy nhiên, nội dung của mẫu này không phù hợp để áp dụng đối với các trường hợp không xác định được đối tượng vi phạm hành chính hoặc cá nhân vi phạm hành chính chết, mất tích, tổ chức vi phạm hành chính đã giải thể, phá sản trong thời gian xem xét ra quyết định xử phạt. Tại Mẫu biểu MBB 01 (Biên bản vi phạm hành chính), trong phần những người tham gia lập biên bản ký tên có “Đại diện chính quyền” (ký, ghi rõ chức vụ, họ tên) quy định như vậy gây khó khăn trong việc lập biên bản vi phạm hành chính vì không phải khi nào lập biên bản vi phạm hành chính cũng mời được đại diện chính quyền địa phương. Có thể bổ sung vào phần chú thích của Mẫu biểu MBB 01 theo hướng: Đại diện chính quyền cơ sở nơi xảy ra vi phạm ký vào biên bản vi phạm hành chính trong trường hợp người vi phạm, đại diện tổ chức vi phạm không có mặt tại nơi vi phạm hoặc cố tình trốn tránh hoặc vì lý do khách quan mà không ký vào biên bản (theo quy định tại khoản 2 Điều 58 Luật XLVPHC). Ngoài ra, cần bổ sung biểu mẫu riêng áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả đối với các trường hợp không ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính do không xác định được đối tượng vi phạm hành chính hoặc cá nhân vi phạm hành chính chết, mất tích, tổ chức vi phạm hành chính đã giải thể, phá sản trong thời gian xem xét ra quyết định xử phạt.
Như vậy, có thể thấy hành lang pháp lý cho việc xử lý vi phạm hành chính đã được xây dựng và có đóng góp tích cực cho việc quản lý xã hội. Bên cạnh đó vẫn còn một số bất cập trong quy định gây khó khăn khi áp dụng. Mong rằng trong thời gian tới, Nghị định sửa đổi Nghị định 81/2013/NĐ-CP sẽ sớm được ban hành, nhằm tháo gỡ những khó khăn như hiện nay./.