Tài liệu kèm theo yêu cầu thi hành án dân sự Quy đỊnh của pháp luật và thực tiễn áp dụng
Sign In
  • * Chào mừng Quý vị và các bạn đến với Trang thông tin điện tử Cục Công tác phía Nam, Bộ Tư pháp *

Nghiên cứu trao đổi kinh nghiệm

Tài liệu kèm theo yêu cầu thi hành án dân sự Quy đỊnh của pháp luật và thực tiễn áp dụng

Thi hành án dân sự có vai trò quan trọng trong hoạt động tố tụng nói chung và quá trình giải quyết vụ án nói riêng. Đây là công đoạn cuối cùng của hoạt động tố tụng, bảo đảm cho bản án, quyết định của Tòa án được chấp hành nghiêm chỉnh, góp phần tăng cường tính nghiêm minh của pháp luật, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân và Nhà nước. Qua đó góp phần giữ vững ổn định chính trị, xã hội, tăng cường hiệu lực, hiệu quả của bộ máy Nhà nước.

Để thi hành xong một bản án, quyết định, cơ quan thi hành án dân sự phải thực hiện rất nhiều thủ tục. Trong đó, ra Quyết định thi hành án được xem là thủ tục đầu tiên của cơ quan thi hành án dân sự nhưng được xem là giai đoạn có ý nghĩa rất quan trọng vì thông qua quyết định thi hành án các giai đoạn tiếp theo của quá trình thi hành bản án, quyết định mới được thực hiện. Theo Điều 36 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (được sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định thi hành án khi có yêu cầu thi hành án, trừ một số trường hợp liên quan đến các nội dung như: Hình phạt tiền, truy thu tiền, tài sản thu lợi bất chính, án phí, lệ phí Tòa án; Trả lại tiền, tài sản cho đương sự; Tịch thu sung quỹ nhà nước, tịch thu tiêu hủy vật chứng, tài sản; Các khoản thu khác cho Nhà nước; Thu hồi quyền sử dụng đất và tài sản khác thuộc diện sung quỹ nhà nước; Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời; Quyết định của Tòa án giải quyết phá sản. Đây được xem là loại hình thi hành án chủ động.
Điều này có nghĩa là, ngoài sáu trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 36 Luật Thi hành án dân sự hiện hành, người được thi hành án muốn được thi hành bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật thì phải chủ động làm đơn gửi đến cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền. Đây được xem là loại thi hành án theo đơn yêu cầu.
1. Thực tiễn áp dụng
Luật Thi hành án dân sự hiện hành đã sửa đổi, bổ sung 55/183 điều của Luật Thi hành án dân sự năm 2008. Trong đó, có sửa đổi quy định liên quan đến việc tiếp nhận, từ chối yêu cầu thi hành án như: Thay đổi quy định “đơn yêu cầu thi hành án” bằng thuật ngữ “yêu cầu thi hành án” hoặc “thông báo bằng văn bản cho người yêu cầu” thay cho việc cấp giấy xác nhận đã nhận đơn. Tuy nhiên, nội dung liên quan đến “các tài liệu kèm theo” yêu cầu thi hành án thì vẫn giữ nguyên theo hướng chỉ quy định: “Người yêu cầu phải nộp bản án, quyết định, tài liệu khác có liên quan”.
Xoay quanh các loại tài liệu kèm theo đơn yêu cầu thi hành, tác giả xin đưa ra một số vấn đề để bàn luận như sau:
1.1. Liên quan đến “các tài liệu kèm theo” yêu cầu thi hành án theo quy định tại khoản 4 Điều 31 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (được sửa đổi, bổ sung năm 2014)
Bên cạnh loại tài liệu là “bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực” (bao gồm Phán quyết của Trọng tài thương mại nếu yêu cầu thi hành đối với Phán quyết của Trọng tài thương mại) được xem là tài liệu bắt buộc để cơ quan thi hành thụ lý yêu cầu thi hành án và ban hành được Quyết định thi hành án dân sự, các “tài liệu khác có liên quan” là những tài liệu gì chưa được quy định rõ. Trên thực tế áp dụng, các tài liệu khác mà người dân phải cung cấp có thể là: (i) Giấy tờ tùy thân (giấy chứng minh nhân dân nếu là cá nhân, giấy chứng minh là người có thẩm quyền đại diện cho tổ chức), (ii) Giấy ủy quyền (nếu có sự ủy quyền), (iii) Văn bản trả lời của Tòa án về việc đến thời điểm hiện tại chưa tiếp nhận đơn yêu cầu hủy phán quyến của Trọng tài thương mại (nêu yêu cầu thi hành phán quyết của Trọng tài thương mại). Vấn đề này, tác giả có quan điểm như sau:
Thứ nhất, đối với các giấy tờ nêu tại mục (i) và (ii) cũng là một trong những loại giấy tờ cần thiết phải xuất trình khi nộp yêu cầu thi hành. Bởi nó là cơ sở để cơ quan thi hành án dân sự kiểm tra đối chiếu xem người nộp yêu cầu thi hành án có phải là đối tượng được thi hành án hay không. Tuy nhiên, Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (được sửa đổi, bổ sung năm 2014) và Nghị định số 62/2015/NĐ-CP ngày 18 tháng 7 năm 2015 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án dân sự lại không quy định và hướng dẫn cụ thể. Điều này đã gây ra một số bất cập trên thực tế áp dụng. Cụ thể:
- Đối với người dân, điều này sẽ khó khăn cho người dân khi đến cơ quan thi hành án yêu cầu vì không phải ai cũng đủ kiến thức pháp luật để để có sự chuẩn bị đầy đủ các tài liệu kèm theo trước khi đến cơ quan thi hành án và như vậy lại mất thêm thời gian vì phải đi lại nhiều lần để bổ sung giấy tờ theo quy định của cơ quan thi hành án nơi người dân đến liên hệ nếu thiếu.
- Đối với cơ quan thi hành án, có thể dẫn đến việc tùy mỗi địa phương sẽ quy định những loại giấy tờ khác nhau, tạo ra sự không thống nhất. Đồng thời, điều này sẽ gây khó khăn cho bộ phận thụ lý yêu cầu trong trường hợp người dân dẫn chiếu quy định pháp luật và cho rằng cán bộ thụ lý gây khó khăn, nhũng nhiễu, nhưng chính điều này cũng có thể tạo ra cơ hội tiêu cực trong công chức thi hành án.
Thứ hai, đối với các tài liệu nêu tại mục (iii) thì trên thực tế, hầu hết các đương sự khi đến cơ quan thi hành án nộp yêu cầu thi hành án đều không biết cần phải có văn bản này. Do đó, họ lại phải quay về và chờ một thời gian rất lâu để được Tòa án trả lời. Đồng thời, cũng có trường hợp, sau khi được hướng dẫn, đương sự đã có văn bản trả lời của Tòa án nhưng nội dung văn bản lại không thể hiện rõ ràng là có đơn yêu cầu hủy Phán quyết của Trọng tài thương mại hay không. Lúc này cơ quan thi hành án không thể từ chối yêu cầu của đương sự nhưng để đảm bảo chặt chẽ, cơ quan thi hành án nhận yêu cầu nhưng lại tiếp tục phải có văn bản gửi Tòa án. Như vậy, thời gian để ban hành quyết định thi hành án theo yêu cầu bị kéo dài. Trong khi đó, Luật Thi hành án năm 2008 (được sửa đổi, bổ sung năm 2014) lại không quy định thời thời hạn bao lâu Tòa án phải có văn bản trả lời dẫn đến vụ việc thi hành án có thể bị kéo dài, người dân không hiểu có thể sẽ khiếu nại vì cho rằng cơ quan thi hành án cố tình không thi hành vụ việc của họ.
1.2. Xét về hình thức của các loại giấy tờ bắt buộc kèm theo yêu cầu thi hành án
Các tài liệu này bắt buộc phải là “bản chính” hay có thể chỉ là“bản sao” và bản sao thì cơ quan nào thực hiện việc chứng thực bản sao được công nhận?
Đối với vấn đề này, hiện nay tại mỗi địa phương, tùy vào quan điểm của Lãnh đạo đơn vị mà có sự vận dụng khác nhau. Đề cập đến vấn đề này, tác giả cho rằng, do không có quy định và hướng dẫn cụ thể nên đã tạo ra sự không nhất quán trong cách áp dụng pháp luật giữa các cơ quan thi hành án. Điều này có thể sẽ dẫn đến 02 trường hợp:
Một là, để đảm bảo chặt chẽ, khi đương sự nộp yêu cầu thi hành án, cơ quan thi hành án có quyền yêu cầu phải kèm theo bản chính Bản án, Quyết định đã có hiệu lực pháp luật. Tuy nhiên, Điều 269 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định đương sự vẫn có quyền yêu cầu Tòa án cấp trích lục bản án trong thời hạn ba ngày làm việc kể từ ngày kết thúc phiên tòa. Nghĩa là, đương sự vẫn có thể được cấp bản sao và có thể nộp cho cơ quan thi hành án dân sự bản sao. Vì vậy, nếu yêu cầu đương sự phải nộp bản chính thì tác giả thiết nghĩ cơ quan thi hành án dân sự có thể bị xem là đang đi ngược lại với xu hướng cải cách hành chính mà Đảng và Chính phủ đang đặt ra.
Hai là, sẽ có sự cải tiến hơn so với trường hợp thứ nhất, khi chỉ cần cung cấp bản sao bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật. Tuy nhiên, trong trường hợp này cũng đặt ra vấn đề bản sao này sẽ phải là “bản sao được cấp từ sổ gốc” hay chỉ là “bản sao được chứng thực từ bản chính”. Bởi, theo quy định tại Nghị định số 23/2015/NĐ-CP ngày 16 tháng 02 năm 2015 quy định vcấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký và chứng thực hợp đồng, giao dịch (Nghị định số 23/2015/NĐ-CP) quy định giá trị pháp lý của hai loại bản sao này là khác nhau. Dù trong Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (được sửa đổi, bổ sung năm 2014) và Nghị định hướng dẫn không đề cập đến vấn đề này nhưng thực tế áp dụng hiện nay là đối với loại tài liệu bắt buộc là bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật thì phải là “bản sao được cấp từ sổ gốc”. Điều này có nghĩa, cơ quan thi hành án dân sự sẽ không chấp nhận các tài liệu là bản sao tại những cơ quan có thẩm quyền về chứng thực theo quy định tại Nghị định số 23/2015/NĐ-CP.  
Tác giả đồng ý với thực tế áp dụng này đối với bản án, quyết định của Tòa án. Bởi bản án, quyết định của Tòa án là một trong những văn bản đặc thù – văn bản do cơ quan tiến hành tố tụng ban hành và theo quy định tại Điều 269 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án là cơ quan có thẩm quyền cấp bản sao bản án dưới hình thức trích lục: “Trong thời hạn ba ngày làm việc kể từ ngày kết thúc phiên tòa các đương sự sẽ được Tòa án cấp trích lục bản án nếu có yêu cầu”. Do đó, việc quy định sao y đối với bản án, quyết định của Tòa án phải do Tòa án thực hiện dưới hình thức trích lục là phù hợp.
Riêng đối với “quyết định là phán quyết của Trọng tài thương mại”, tác giả còn có sự băn khoăn là tài liệu này để được cơ quan thi hành án dân sự công nhận thì có phải cũng bắt buộc trích lục từ Trung tâm Trọng tài thương mại hay không. Đây là tổ chức được thành lập, hoạt động và chấm dứt như một doanh nghiệp, không phải là cơ quan Nhà nước có thẩm quyền hay cơ quan tiến hành tố tụng. Đồng thời, tại Điều 22 Nghị định số 23/2015/NĐ-CP chỉ liệt kê sáu loại bản chính giấy tờ, văn bản không được dùng làm cơ sở để chứng thực bản sao gồm: (i) Bản chính bị tẩy xóa, sửa chữa, thêm, bớt nội dung không hợp lệ. (ii) Bản chính bị hư hỏng, cũ nát, không xác định được nội dung. (iii) Bản chính đóng dấu mật của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền hoặc không đóng dấu mật nhưng ghi rõ không được sao chụp. (iv) Bản chính có nội dung trái pháp luật, đạo đức xã hội; tuyên truyền, kích động chiến tranh, chống chế độ xã hội chủ nghĩa Việt Nam; xuyên tạc lịch sử của dân tộc Việt Nam; xúc phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân, tổ chức; vi phạm quyền công dân. (v) Bản chính do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền của nước ngoài cấp, công chứng hoặc chứng nhận chưa được hợp pháp hóa lãnh sự theo quy định tại Khoản 1 Điều 20 của Nghị định này. (vi) Giấy tờ, văn bản do cá nhân tự lập nhưng không có xác nhận và đóng dấu của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền. Theo đó, phán quyết của Trọng tài thương mại vẫn có thể chứng thức bản sao tại các cơ quan có thẩm quyền chứng thực theo Nghị định số 23/2015/NĐ-CP. Như vậy, cơ quan thi hành án dân sự không có lý do gì để yêu cầu bản sao phán quyết trọng tài thương mại phải do chính Trung tâm Trọng tài thương mại cấp và từ chối nếu không đúng.
Ngoài ra, theo quy định về cải cách thủ tục hành chính hiện nay, trong một số thủ tục như: Cấp giấy khai sinh, đăng ký kết hôn, các thủ tục liên quan đến hộ tịch khác….việc cung cấp giấy tờ chứng minh nhân thân (chứng minh nhân dân, hộ khẩu) không cần phải có chứng thực. Người dân chỉ cần đem bản chính để đối chiếu. Trong khi đó, khi nộp yêu cầu thi hành án, cơ quan thi hành án dân sự lại yêu cầu phải có giấy tờ chứng minh nhân thân là bản sao có chứng thực. Điều này tạo ra sự không tương thích với những quy định khác có liên quan và có thể là vi phạm về cải cách thủ tục hành chính.
2. Một số đề xuất, kiến nghị
Cải cách thủ tục hành chính được Chính phủ xác định là một nhiệm vụ trọng tâm vì đây là đòi hỏi của thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội của nước ta. Trong đó, về phía khối cơ quan hành chính, phải coi đây là việc làm thường xuyên, liên tục của các cơ quan hành chính nhà nước các cấp, là trách nhiệm của mỗi cán bộ, công chức trong các cơ quan nhà nước. Thi hành án dân sự cũng không nằm ngoài xu hướng chung này với mục đích nâng cao chất lượng phục vụ nhân dân và doanh nghiệp ngày một tốt hơn, chất lượng hệ thống thể chế ngày một cao hơn. Đồng thời, phải xác định cải cách thủ tục hành chính không phải là sửa đổi được bao nhiêu quy định mà cốt lõi là những sửa đổi này phải đi vào cuộc sống, giảm thiểu gánh nặng, khó khăn cho người dân, doanh nghiệp và hướng tới mục đích cuối cùng của công tác thi hành án dân sự là đạt được kết quả theo chỉ tiêu của Quốc hội, của Ngành giao.
Theo quan điểm tác giả, để khắc phục một số bất cập như đã nêu cần có thời gian và lộ trình thích hợp. Tuy nhiên, trước mắt cần triển khai một số hoạt động như sau:
Thứ nhất, tiếp tục hoàn thiện thể chế, quy định của pháp luật theo hướng
- Tổng cục Thi hành án dân sự cần tham mưu cho Bộ Tư pháp, Chính phủ bổ sung cụ thể các loại tài liệu kèm theo yêu cầu thi hành trong Nghị định hướng dẫn. Từ đó tạo ra sự thống nhất trong việc áp dụng và thuận lợi cho người dân khi có nhu cầu.
- Cũng giống như các thủ tục hành chính khác và để tránh tình trạng như hiện nay, mỗi địa phương thực hiện quy trình tiếp nhận yêu cầu thi hành án khác nhau (có địa phương người dân nộp yêu cầu tại bộ phận tiếp nhận thuộc Văn phòng, có địa phương nộp tại Phòng nghiệp vụ…), Tổng cục Thi hành án dân sự sớm tham mưu cho Bộ Tư pháp ban hành Quyết định quy định hướng dẫn các địa phương xây dựng quy trình giải quyết thi hành án. Trong đó, nêu rõ, cụ thể  các bước mà cơ quan thi hành phải thực hiện khi ra quyết định thi hành, thời gian thực hiện và các tài liệu bao gồm những loại giấy tờ gì, bản chính hay bản sao, nộp bao nhiêu bộ…
Thứ hai, tiến tới áp dụng các hình thức giải quyết thủ tục qua mạng khi cơ sở hạ tầng cho phép. Theo đó, cũng như một số thủ tục hành chính trong lĩnh vực tư pháp thuộc Bộ Tư pháp quản lý hiện nay đang được áp dụng hình thức giải quyết qua internet, thì thiết nghĩ, công tác thi hành án cũng có thể áp dụng được hình thức này. Bước đầu là tiến hành ở khâu nộp yêu cầu thi hành án qua mạng thay vì phải đến trực tiếp tại cơ quan thi hành án dân sự. Đến thời điểm hiện nay, cả nước đã có Chi cục Thi hành án dân sự Quận 7, thành phố Hồ Chí Minh tiến hành hình thức này từ ngày 01/6/2016 và đến ngày 4/7/2016 đã trao 02 quyết định thi hành án đầu tiên theo cơ chế “một cửa”. Theo đó, các tổ chức, cá nhân chỉ cần gửi đơn yêu cầu thi hành án kèm theo bản án, quyết định của tòa án, phán quyết đã có hiệu lực pháp luật (bản scan) vào hộp thư điện tử của Chi cục Thi hành án Quận 7. Trong thời gian một ngày làm việc, bộ phận tiếp nhận thủ tục thi hành án nhận email sẽ trả lời liền cho đương sự biết hồ sơ có đủ điều kiện thụ lý hay chưa và cần bổ sung thêm gì. Nếu hồ sơ đủ điều kiện, trong thời gian năm ngày làm việc (kể từ lúc nhận được email), bộ phận tiếp nhận hồ sơ sẽ gửi tin nhắn qua điện thoại cho đương sự biết kết quả thụ lý, số điện thoại của chấp hành viên tổ chức thi hành và hẹn ngày giờ đến nhận quyết định thi hành án. Khi đến, đương sự sẽ nộp bản chính: Đơn yêu cầu thi hành án, bản án, quyết định.