Nhìn lại 02 năm thực hiện quy chế phối hợp giữa Cục Công tác phía Nam và các Sở Tư pháp, Cục Thi hành án dân sự trong khu vực phía Nam
Sign In
  • * Chào mừng Quý vị và các bạn đến với Trang thông tin điện tử Cục Công tác phía Nam, Bộ Tư pháp *

Nghiên cứu trao đổi kinh nghiệm

Nhìn lại 02 năm thực hiện quy chế phối hợp giữa Cục Công tác phía Nam và các Sở Tư pháp, Cục Thi hành án dân sự trong khu vực phía Nam

Đánh giá toàn diện một số kết quả và hạn chế khó khăn trong công tác phối hợp giữa Cục công tác phía Nam (CTPN) với các Sở Tư pháp (STP), Cục Thi hành án dân sự (THADS) và đề ra những giải pháp đảm bảo việc phối hợp thực hiện chức năng của các đơn vị tại khu vực phía Nam được kịp thời và hiệu quả theo Quyết định số 3277/QĐ-BTP ngày 08 tháng 12 năm 2014 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành quy chế phối hợp công tác giữa Cục CTPN với STP và Cục THADS các tỉnh thành phố trực thuộc Trung ương khu vực phía Nam.

1. Cung cấp thông tin liên quan đến hoạt động của bộ ngành Tư pháp
1.1. Trách nhiệm của Cục CTPN
Trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ Cục CTPN thường xuyên nắm bắt tình hình công tác của các STP,  Cục THADS trong khu vực để tổng hợp, báo cáo Lãnh đạo Bộ đồng thời có những hình thức chia sẻ phù hợp về những thông tin mà Cục CTPN nắm bắt được như: (i) công tác triển khai việc thực hiện một số bộ luật, luật mới được ban hành; (ii) công tác phổ biến giáo dục pháp luật thông qua các hình thức mới như thi tìm hiểu pháp luật qua mạng, quán cà phê pháp luật; (iii) tình hình liên quan đến việc chuyển đổi văn phòng công chứng, thù lao công chứng; (iv) việc thành lập Chi bộ Đảng trong đoàn luật sư; (v) việc thi hành luật hộ tịch; (vi) công tác giám định; (vii) tình hình người di cư từ Campuchia về Việt Nam sinh sống, tình hình trẻ em là con lai, phụ nữ Việt Nam kết hôn với người nước ngoài sau đó đem con về Việt Nam sinh sống mà con của họ không có giấy khai sinh chưa được đi học; (viii) những vấn đề liên quan đến kết quả thi hành án dân sự về việc, về giá trị; (ix) công tác nhân sự tại STP, Cục THADS địa phương.
Cục CTPN chia sẻ thông tin cho các địa phương thông qua nhiều hình thức như: Tọa đàm, Hội nghị, những chuyến công tác địa phương Điển hình như: Tọa đàm về công tác THADS do Cục CTPN tổ chức mô hình chủ tịch ủy ban nhân dân là trưởng Ban chỉ đạo công tác THADS, mô hình tổ vận động THADS tại Long An đã được phát hiện và các địa phương trong khu vực đã vận dụng những điểm hay sáng tạo vào áp dụng tại địa phương mình.
Định kỳ hàng tháng, 6 tháng, năm và các chuyến công tác kiểm tra hoạt động Tư pháp và THADS địa phương Cục CTPN xây dựng báo cáo kết quả theo dõi tình hình công tác tư pháp THADS các tỉnh, thành phố khu vực phía Nam để trình lãnh đạo Bộ Tư pháp. Những thông tin do Cục CTPN cung cấp có giá trị đã được Lãnh đạo Bộ quan tâm chỉ đạo giải quyết đồng thời làm cơ sở để các Cục, Vụ chuyên quản nghiên cứu hoàn thiện pháp luật, có những biện pháp cách thức tháo gỡ cho địa phương nhằm thực hiện tốt nhiệm vụ được giao.
Có thể kể ra như, Cục CTPN nhận thấy khu vực phía Nam có số lượng vụ việc chiếm trên 60% so với cả nước, về giá trị chiếm hơn 70% so với cả nước nhưng biên chế và Chấp hành viên chỉ chiếm trên 40%, nhất là những địa phương có khối lượng việc lớn như Tây Ninh, Long An, Đồng Nai, Bình Dương, Tiền Giang, TP. Hồ Chí Minh. Do vậy, Cục CTPN đã đề xuất, kiến nghị Bộ, Tổng cục THADS tăng cường thêm nguồn lực về kinh phí và biên chế cho khu vực phía Nam. Qua đó, Tổng cục THADS đã thực hiện chính sách biệt phái CHV, điều chuyển biên chế của những địa phương có khối lượng công việc ít vào các địa phương phía Nam có số lượng án phải thi hành cao. So với năm 2014, áp lực công việc của CHV năm 2016 đã giảm đáng kể (Năm 2014: 317 vụ việc/CHV; năm 2015: 284 vụ việc/ CHV; năm 2016: 306 vụ/CHV).
Bên cạnh đó, thông qua việc tổ chức các buổi Toạ đàm chuyên môn, Cục CTPN đã tổng hợp những khó khăn, những giải pháp khắc phục của địa phương, báo cáo trình Lãnh đạo Bộ và các đơn vị thuộc Bộ. Tiêu biểu:
(i) Toạ đàm về kết hôn có yếu tố nước ngoài: địa phương đã phản ánh vấn đề phỏng vấn trong thủ tục kết hôn, phụ thuộc nhiều vào “niềm tin nội tâm” của cán bộ phỏng vấn, chưa có tiêu chí xác định sự hiểu biết phong tục, tập quán, văn hoá của các nước mà công dân Việt Nam muốn đến đăng ký kết hôn; chưa thể hiện được tính tự chịu trách nhiệm của công dân khi đủ tuổi, các điều kiện kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân gia đình; giấy tờ chứng minh tình trạng hôn nhân của các nước dựa theo kinh nghiệm của các STP... Ghi nhận những khó khăn của địa phương tại báo cáo của Cục CTPN, Cục Hộ tịch, Quốc tịch, Chứng thực đã tham mưu Nghị định 123 bỏ thủ tục phỏng vấn trong đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoài, có văn bản quy định danh mục giấy tờ chứng minh tình trạng hôn nhân của một số quốc gia cấp cho công dân nước đó sử dụng để đăng ký kết hôn với công dân Việt Nam. Việc này đã tạo điều kiện cho các địa phương thực hiện đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoài thuận lợi hơn.
Rồi Toạ đàm về xử lý vi phạm hành chính: những khó khăn trong việc áp dụng quy định về XLVPHC được các địa phương nêu ra như: sự không thống nhất trong các văn bản quy định về điều kiện áp dụng các biện pháp XLVPHC, số lần vi phạm bị XLVPHC, việc đưa vào trường giáp dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc; việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn; Trình tự, thủ tục lập hồ sơ người nghiện ma túy, quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc quá phức tạp; Luật XLVPHC thiếu quy định về chứng cứ trong XLVPHC gây khó khăn trong quá trình áp dụng …Qua kết quả Toạ đàm, Cục CTPN đã có kiến nghị, Lãnh đạo Bộ chỉ đạo Cục QLXLVPHC tham mưu Bộ Tư pháp trình Chính phủ ký ban hành ban hành một loạt các Nghị định sửa đổi quy định việc áp dụng biện pháp xử lú hành chính giáo dục tại xả phường; cai nghiện bắt buộc.
Hay như Toạ đàm về Thừa phát lại: những vấn đề liên quan đến thể chế; khó khăn trong kinh phí, việc cưỡng chế THADS đã được Cục CTPN tổng hợp, báo cáo Lãnh đạo Bộ và Tổng cục THADS. Qua kết quả Toạ đàm, Tổng cục THADS cấp bổ sung kinh phí thực hiện chế định TPL cho Cục THADS, kinh phí được lấy từ kinh phí giao không thực hiện tự chủ của các đơn vị.
và nhiều kết quả Toạ đàm, hội thảo khác.
Đối với các đơn, thư yêu cầu của các tổ chức, cá nhân gửi đến Cục CTPN, Cục đã chuyển đơn có hồ sơ kèm theo đến cơ quan có thẩm quyền giải quyết đồng thời có văn bản thông báo đến công dân biết theo quy định của pháp luật. Hàng năm, Cục CTPN chuyển khoảng 30 đơn thư và chủ yếu thuộc thẩm quyền giải quyết của các Cục THADS trong Khu vực.
Trong nhiều đoàn công tác của các đơn vị thuộc Bộ tại khu vực phía Nam, có sự tham gia của Cục CTPN, công chức Cục đã phát huy vai trò, khả năng, kỹ năng chuyên môn để có ý kiến liên quan đến công tác tư pháp, THADS tại đơn vị. Sự tham gia sâu của công chức Cục CTPN trong thanh tra chuyên ngành tư pháp đã góp phần hướng dẫn nghiệp vụ, giúp đỡ các địa phương được thanh tra khắc phục những thiếu sót sau thanh tra, chia sẻ kinh nghiệm cho các địa phương khác trong Khu vực.
Ngoài ra, để góp phần tạo mối quan hệ chặt chẽ giữa Cục CTPN với các địa phương cũng như tạo điều kiện để công chức Cục CTPN nắm bắt, học hỏi kinh nghiệm triển khai các hoạt động tư pháp địa phương, từ năm 2014 đến nay, Cục CTPN đã cử 05 lượt công chức đi thực tế tại STP, Cục THADS TP. Hồ Chí Minh.
1.2. Trách nhiệm của Sở Tư pháp, Cục THADS trong Khu vực
Thời gian qua, các STP, Cục THADS đã cơ bản thực hiện nghiêm túc việc đồng gửi văn bản cho Cục CTPN khi báo cáo Bộ và các đơn vị thuộc Bộ về kết quả hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ. Một số địa phương thực hiện tốt việc gửi báo cáo như: Trà Vinh, Sóc Trăng, Long An, Hậu Giang, Đồng Tháp, Bình Phước, Bà Rịa - Vũng Tàu, Đồng Nai, Lâm Đồng...
Bên cạnh việc gửi các báo cáo chuyên đề, các địa phương cũng chủ động gửi văn bản về Cục CTPN khi có những thay đổi về tổ chức của cơ quan tư pháp và THADS địa phương; những thuận lợi, khó khăn, vướng mắc và các giải pháp khắc phục trong thực hiện nhiệm vụ 
Những đơn, thư yêu cầu của các tổ chức, cá nhân được Cục CTPN chuyển đến đến STP, Cục THADS giải quyết theo thẩm quyền đều được các STP, Cục THADS tích cực giải quyết, đảm bảo đúng trình tự, thủ tục, thời gian quy định. Đa số kết quả giải quyết đơn, thư được thông báo đến Cục CTPN.
Có những trường hợp, thông qua phản ánh của báo chí hoặc thông qua công tác theo dõi biết được, Cục CTPN đã có văn bản hoặc thông tin qua điện thoại cho Cục THADS để xem xét giải quyết và trả lời cho báo chí theo quy định (Đồng Nai, Cà Mau).
2. Theo dõi, tổng hợp đề xuất của cấp ủy, Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đối với công tác tư pháp
2.1. Trách nhiệm của Cục Công tác phía Nam
Khi tiếp nhận các đề xuất của cấp ủy, Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh về các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý Nhà nước của Bộ Tư pháp tại địa phương, Cục CTPN đã tổng hợp tham mưu, báo cáo Lãnh đạo Bộ.
Điển hình như việc các STP phản ánh HĐND các địa phương đề nghị hủy bỏ quyết định chuyển giao thẩm quyền chứng thực hợp đồng giao dịch từ UBND cấp huyện, cấp xã sang các tổ chức hành nghề công chứng sau khi Luật Đất đai và Nghị định số 43/2014/NĐ-CP có hiệu lực thi hành (Bến Tre, Đồng Nai, Long An, Tiền Giang, Hậu Giang...), Cục CTPN đã kịp thời thông tin, báo cáo cho Lãnh đạo Bộ. Cục Bổ trợ tư pháp đã tham mưu văn bản trình Bộ trưởng trả lời các địa phương.
2.2. Trách nhiệm của các STP, Cục THADS trong Khu vực
Trong quá trình gửi các ý kiến, đề xuất của cấp ủy, HĐND và UBND cấp tỉnh đến Bộ Tư pháp và các đơn vị thuộc Bộ, các địa phương đã đồng gửi các văn bản này đến Cục CTPN. Các ý kiến, đề xuất của cấp ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân chủ yếu được các STP, Cục THADS lồng ghép trong các báo cáo 6 tháng, 9 tháng, năm.
3. Phục vụ các chuyến công tác, các cuộc làm việc của Lãnh đạo Bộ với Lãnh đạo địa phương, cơ quan tư pháp địa phương
Bình quân mỗi năm, Cục CTPN phối hợp các địa phương phục vụ khoảng trên 100 chuyến làm việc của Lãnh đạo Bộ và các đơn vị thuộc Bộ tại các địa phương trong Khu vực. Cục CTPN và các STP, Cục THADS đã phối hợp rất tốt, được Lãnh đạo Bộ và các đơn vị thuộc Bộ sử dụng và đánh giá cao.
4. Trong việc tổ chức các Hội nghị hội thảo, tọa đàm, tập huấn, hội thi, sơ kết, tổng kết
4.1. Trách nhiệm của Cục CTPN
Cục CTPN đã thể hiện được vai trò, vị trí là cầu nối hiệu quả giữa Bộ Tư pháp và các địa phương trong Khu vực. Hàng năm, Cục CTPN tổ chức từ 01 đến 02 Hội nghị giao ban Khu vực về công tác tư pháp, 01 Hội nghị giao ban Khu vực về công tác THADS và 04 đến 05 hội thảo, tọa đàm. Các STP và Cục THADS đã phối hợp rất tốt với Cục CTPN để tổ chức các hội nghị này thàn công, đạt hiệu quả cao.
5 Thi đua, khen thưởng
Tại các cuộc họp, hội nghị triển khai, Cục CTPN đã cung cấp thông tin, có ý kiến với Hội đồng thi đua khen thưởng của Ngành khi bình xét danh hiệu thi đua, hình thức khen thưởng của Ngành đối với tập thể và cá nhân thuộc khu vực phía Nam.
Kính thưa các quý vị đại biểu!
Có thể nói, Qua hơn hai năm thực hiện Quy chế phối hợp giữa Cục CTPN và STP, Cục THADS trong Khu vực đã đạt được nhiều kết quả, việc phối hợp đã ngày một nhịp nhàng hơn. Tuy nhiên, hiệu quả phối hợp vẫn chưa đạt được chiều sâu như mong muốn, chưa tương xứng với yêu cầu nhiệm vụ của các cơ quan. Một số phản ánh, kiến nghị của địa phương chưa được cập nhật kịp thời, việc tổng hợp báo cáo, tham mưu với lãnh đạo Bộ chưa sát, chưa kịp thời với tình hình thực tế ở địa phương. Cụ thể:
1. Về phía Cục CTPN
Các hoạt động trao đổi về ý kiến, đề xuất của cấp ủy, HĐND và UBND cấp tỉnh cũng như việc phối hợp với các đơn vị thuộc Bộ để trả lời cho các địa phương còn hạn chế do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan.
Các thông tin theo dõi về tình hình công tác tư pháp chủ yếu được tổng hợp từ nguồn báo cáo định kỳ và chuyên đề của các địa phương.
 Một số công chức Cục CTPN chưa có sự chủ động trong việc nắm bắt thông tin về công tác tư pháp, THADS bằng các kênh thông tin khác nhau, thông qua các hoạt động thực tiễn tác nghiệp tại địa phương, việc tham mưu cho lãnh đạo Cục còn hạn chế.
Trong nhiều đoàn công tác, hội nghị, hội thảo của Bộ tổ chức tại Khu vực, công chức Cục CTPN mới chỉ tham gia hoặc hỗ trợ về các công tác hậu cần mà chưa thực hiện các công việc liên quan đến xây dựng kế hoạch, lập chương trình, tổ chức thực hiện, làm báo cáo kết quả kiểm tra nên một số kiến nghị, giải pháp để giải quyết vướng mắc cho địa phương chưa được nghiên cứu sâu sắc.
2. Về phía Sở Tư pháp, Cục THADS
Khi có đoàn công tác của Lãnh đạo Bộ tại địa phương, một số STP, Cục THADS chưa chủ động báo cáo tình hình kinh tế - xã hội địa phương mà thường thực hiện sau khi có yêu cầu từ Cục CTPN.
Một số STP, Cục THADS chưa thực hiện nghiêm túc chế độ song trùng báo cáo nên đã ảnh hưởng đến việc cập nhập thông tin, dữ liệu, làm hạn chế khả năng tham mưu của Cục CTPN cho Lãnh đạo Bộ. Tuy nhiên, gần đây, tình trạng này đã được khắc phục, một số địa phương đã rà soát và gửi bổ sung các báo cáo chuyên đề cho Cục CTPN.
Nhiều địa phương chưa chủ động nêu các khó khăn, vướng mắc của địa phương với Cục CTPN để Cục CTPN phản ánh với Lãnh đạo Bộ, các đơn vị thuộc Bộ để Lãnh đạo Bộ có sự chỉ đạo các đơn vị thuộc Bộ trực tiếp giải quyết các khó khăn, vướng mắc hoặc có văn bản trả lời cho địa phương.
Nguyên nhân của những hạn chế nêu trên
1. Nguyên nhân khách quan
Thứ nhất, xuất phát từ chức năng, nhiệm vụ của Cục CTPN. Mặc dù đã được chuyển đổi mô hình từ Cơ quan đại diện thành Cục CTPN và được bổ sung thêm nhiều nhiệm vụ (trong đó có chức năng kiểm tra) nhưng tính chất quản lý của Cục CTPN vẫn là quản lý nội bộ chứ không có chức năng quản lý nhà nước. Chính vì vậy, khi có khó khăn, vướng mắc trong nghiệp vụ, các địa phương đều chỉ gửi văn bản đến các Cục, Vụ chuyên quản để xin ý kiến mà không gửi đến Cục CTPN.
Thứ hai, Cục CTPN là cơ quan xa Bộ nên việc thông tin, phối hợp của các đơn vị thuộc Bộ tới Cục còn hạn chế. Do vậy, Cục CTPN ít có thông tin để chia sẻ với địa phương về chương trình, kế hoạch của các Hội nghị, Hội thảo, đoàn công tác.
Thứ ba, Mặc dù mối quan hệ phối hợp giữa Cục CTPN với các địa phương đã được thực hiện Quy chế nhưng Quy chế này mới được ban hành, thời gian triển khai trên thực tiễn chưa nhiều nên thực tế hiện nay việc phối hợp giữa Cục CTPN với các STP, Cục THADS trong Khu vực vẫn chưa được cải thiện nhiều so với trước khi có quy chế.
Thứ tư, số lượng công chức của Cục CTPN còn hạn chế (hiện có 23 công chức nhưng phải thực hiện việc theo dõi tất cả các nhiệm vụ của công tác tư pháp và THADS), công chức của Cục không có các chức danh tư pháp như thanh tra viên, thẩm tra viên,... lại thường xuyên có biến động, điều chuyển nên không có điều kiện nghiên cứu chuyên sâu chuyên môn, ảnh hưởng không nhỏ đến khả năng tham mưu, tổng hợp, theo dõi tình hình công tác tư pháp, THADS.
2. Nguyên nhân chủ quan
Thứ nhất, Khả năng theo dõi nắm tình hình, đánh giá công việc ở tầm vĩ mô của công chức Cục CTPN chưa cao. Một số công chức chưa chủ động nắm bắt thông tin qua các kênh mà vẫn còn trông chờ nhiều vào báo cáo của các STP, Cục THADS gửi đến.
Thứ hai, Một số STP, Cục THADS chưa chú trọng phối hợp với Cục CTPN, nên xảy ra tình trạng gửi báo cáo không đầy đủ cho Cục.
Cục CTPN đề ra nột số giải pháp như sau:
1. Đối với Cục Công tác phía Nam
Đề nghị Bộ Tư pháp: Xem xét sửa đổi Quyết định số 1684/QĐ-BTP ngày 13/7/2013 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định chức năng, nhiệm vụ của Cục CTPN theo hướng giao nhiệm vụ cụ thể, phân cấp uỷ quyền cho Cục CTPN thực hiện một số nhiệm vụ thường xuyên, không chỉ theo dõi chung chung về công tác tư pháp, THADS như hiện nay.
Đề nghị Tổng Cục THADS: Ủy quyền cho Cục CTPN thực hiện và thông báo kết quả cho Tổng Cục THADS một số công việc liên quan đến tổ chức cán bộ của Cục THADS địa phương như: (i) Có ý kiến nhận xét cán bộ dự kiến bổ nhiệm Lãnh đạo Cục THADS tỉnh, thực hiện quy trình bổ nhiệm cán bộ hoặc kiểm điểm trách nhiệm theo yêu cầu của Lãnh đạo Tổng cục hoặc Lãnh đạo Bộ; (ii) Thay mặt Lãnh đạo Bộ, Tổng cục công bố các quyết định bổ nhiệm Cục trưởng Cục THADS các tỉnh trong Khu vực; Quyết định giao phụ trách Cục THADS, Quyết định bổ nhiệm lại Cục trưởng Cục THADS; Quyết định nghỉ hưu đối với Cục trưởng Cục THADS trong Khu vực...
Công chức Cục CTPN:
Nâng chất về tiếp cận thông tin: Lãnh đạo Cục tạo điều kiện để công chức của Cục được tiếp cận nhiều hơn với thực tế trên cơ sở mối quan hệ phối hợp công tác giữa Cục CTPN và các STP, Cục THADS địa phương; Cán bộ, công chức nỗ lực học tập nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, năng lực, rèn luyện các kỹ năng cần thiết; nâng cao trách nhiệm cá nhân, làm việc chuyên nghiệp hơn.
Nâng tầm trong xử lý thông tin: mỗi công chức phải tự nâng tầm hiểu biết, chịu khó học hỏi, nghiên cứu để có những tham mưu cho Lãnh đạo Cục mang tính vĩ mô, giải pháp thiết thực, hữu hiệu tránh sa vào giải quyết sự vụ, sự việc.
Tăng cường công tác kiểm tra, giao lưu, tiếp xúc với địa phương để nắm bắt tình hình tư pháp tại địa phương.
2. Đối với các Sở Tư pháp, Cục THADS
Thực hiện đầy đủ và kịp thời các quy định tại Quyết định số 3277/QĐ-BTP ngày 08/12/2014 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp.
Nâng cao nhận thức của lãnh đạo, cán bộ, công chức các cơ quan về tầm quan trọng, tính tất yếu của công tác phối hợp trong công tác.
Lê Thị Minh Long