Tình hình thi hành Luật Xử lý vi phạm hành chính tại phía Nam
Sign In
  • * Chào mừng Quý vị và các bạn đến với Trang thông tin điện tử Cục Công tác phía Nam, Bộ Tư pháp *

Nghiên cứu trao đổi kinh nghiệm

Tình hình thi hành Luật Xử lý vi phạm hành chính tại phía Nam

Luật Xử lý vi phạm hành chính được ban hành năm 2012 đánh dấu bước phát triển mới trong việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật nói chung và pháp luật xử lý vi phạm hành chính nói riêng, đồng thời khẳng định sự phát triển về cơ chế pháp lý trong việc bảo đảm quyền con người, quyền công dân.

         Công tác chỉ đạo, triển khai thực hiện quyết liệt
        Sau khi Luật Xử lý vi phạm hành chính và Nghị định số 81/2013/NĐ-CP ngày 19/7/2013 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Xử lý vi phạm hành chính (Nghị định số 81/2013/NĐ-CP) ban hành, các địa phương tiến hành tuyên truyền, phổ biến, tập huấn về pháp luật xử lý vi phạm hành chính dưới nhiều hình thức: tổ chức hội nghị, đưa tin trên các trang thông tin điện tử của tỉnh, các sở, ban, ngành, trên các phương tiện thông tin đại chúng, trong các buổi sinh hoạt cộng đồng… Tại các Sở Tư pháp đã được kiện toàn tổ chức bộ máy, cán bộ làm công tác xử lý vi phạm hành chính từ 3-4 biên chế. Bên cạnh đó, Sở Tư pháp đã tham mưu UBND tỉnh xây dựng kế hoạch thực hiện công tác xử lý vi phạm hành chính hàng năm, trong đó có lựa chọn lĩnh vực trọng tâm trọng điểm để tổ chức điều tra, khảo sát thực tế, như: lĩnh vực xây dựng, trật tự an toàn giao thông, vệ sinh an toàn thực phẩm (Bình Phước); giao thông đường bộ (Phú Yên); lĩnh vực môi trường (Trà Vinh, Lâm Đồng), an toàn thực phẩm, bảo hiểm xã hội (Cần Thơ). Một số địa phương tiến hành khảo sát việc thực hiện các biện pháp giáo dục xã, phường, thị trấn và biện pháp đưa người nghiện ma túy vào cơ sở cai nghiện bắt buộc (Hậu Giang, Tây Ninh).
 
Tập huấn về XLVPHC đối với người chưa thành niên vi phạm pháp luật tại Đồng Tháp
       
        Công tác phối hợp cũng được các địa phương thực hiện khá tốt. Phần lớn các đợt kiểm tra về xử lý vi phạm hành chính đều được thực hiện bởi các Đoàn kiểm tra liên ngành. Đến nay có 20/25 địa phương[1] xây dựng được Quy chế phối hợp trong công tác xử lý vi phạm hành chính. Đây là cơ sở để quy định rõ chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan liên quan trong quy trình quản lý xử lý vi phạm hành chính.
         Về vấn đề kinh phí, sau khi có Thông tư số 19/2017/TT-BTC ngày 28/02/2017 của Bộ Tài chính quy định việc lập dự toán, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí ngân sách nhà nước cho công tác quản lý nhà nước về thi hành pháp luật xử lý vi phạm hành chính, hầu hết các địa phương đã ban hành Nghị quyết quy định về mức chi hỗ trợ cán bộ, công chức làm công tác quản lý nhà nước về thi hành pháp luật xử lý vi phạm hành chính. Nhờ đó, vấn đề chi kinh phí được triển khai nhanh chóng, kịp thời hỗ trợ, động viên đội ngũ công chức làm công tác này.
         Luật xử lý vi phạm hành chính được áp dụng hiệu quả
         Luật Xử lý vi phạm hành chính được ban hành là một trong những cơ sở quan trọng giúp thực hiện chức năng quản lý nhà nước, nhằm duy trì trật tự, kỷ cương xã hội. Thực tiễn áp dụng đã cho thấy Luật tiến bộ hơn nhiều so với Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính trước đây. Việc quy định cụ thể thẩm quyền xử phạt, đối tượng xử phạt, trình tự, thủ tục thực hiện đã giúp các cơ quan chức năng xử phạt đúng người, đúng hành vi, đúng pháp luật, đảm bảo pháp luật được thực hiện nghiêm minh trên thực tế. Việc quy định rõ ràng quyền, nghĩa vụ của các cá nhân, tổ chức, cơ quan nhà nước giúp người dân giám sát được hoạt động của những cơ quan nhà nước, hạn chế sai sót, quan liêu trong quá trình thực thi quyền lực nhà nước.
 
Hội nghị Tổng kết Luật XLVPHC tại Bến Tre, Cần Thơ

        Qua 05 năm thực hiện Luật xử lý vi phạm hành chính, tình hình xử lý vi phạm hành chính đã từng bước đi vào nề nếp, ổn định, được thực hiện một cách nghiêm túc, hiệu quả, góp phần quan trọng trong việc phòng ngừa, ngăn chặn và xử lý nghiêm minh mọi hành vi vi phạm pháp luật hành chính. Nhận thức của các tổ chức, cá nhân được nâng cao, các vụ việc vi phạm được phát hiện và xử lý kịp thời, đảm bảo đúng quy định của pháp luật, góp phần quan trọng trong việc đảm bảo an ninh trật tự, an toàn xã hội. Theo Báo cáo tổng kết 5 năm thực hiện Luật xử lý vi phạm hành chính của các địa phương, trong Khu vực phía Nam đã phát hiện trên 11 triệu vụ vi phạm, xử phạt 10.500 vụ, thu về gần 12.300 tỷ đồng. Các hành vi vi phạm có xu hướng gia tăng qua các năm, chủ yếu tập trung các lĩnh vực giao thông đường bộ, an ninh trật tự, môi trường, xây dựng, đất đai, kinh tế, ma túy…, trong đó các hành vi có tính chất nghiêm trọng, phức tạp chủ yếu diễn ra tại các lĩnh vực đất đai, xây dựng, tài nguyên môi trường. Việc xử phạt đối với các hành vi này trên thực tế gặp nhiều khó khăn do gặp phải sự chống đối, chây ỳ, không chấp hành quyết định xử phạt của các đối tượng.
        Hình thức xử phạt chính được các cơ quan nhà nước và người có thẩm quyền áp dụng thường xuyên, phổ biến là hình thức phạt tiền. Hình thức phạt đình chỉ hoạt động có thời hạn, tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề chủ yếu được áp dụng là hình thức phạt bổ sung ngoài hình thức phạt chính là phạt tiền. Biện pháp cảnh cáo được sử dụng ít và hình thức trục xuất chưa được áp dụng. Nhìn chung các hình phạt áp dụng đều đem lại hiệu quả và mang tính răn đe đối với các đối tượng vi phạm, góp phần hạn chế tinh hình vi phạm.
 
Khen thưởng tập thể và cá nhân có thành tích xuất sắc trong thi hành Luật XLVPHC ở Cần Thơ, Đồng Nai

        Các biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử phạt vi phạm hành chính chủ yếu được áp dụng là biện pháp tạm giữ tang vật, phương tiện, giấy phép, chứng chỉ hành nghề theo thủ tục hành chính, khám phương tiện vận tải, đồ vật, khám nơi cất giấu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính. Các biện pháp khắc phục hậu quả được áp dụng phổ biến là buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu, buộc tháo dỡ công trình xây dựng không có giấy phép hoặc xây dựng không đúng với giấy phép, buộc tiêu hủy hàng hóa, vật phẩm gây hại cho sức khỏe con người, vật nuôi, cây trồng và môi trường, văn hóa phẩm có nội dung độc hại. Các biện pháp này mang lại hiệu quả cao trong việc xử lý các hành vi vi phạm, giảm mức độ thiệt hại đáng kể.
        Về việc áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính, tại Khu vực có hơn 51.000 trường hợp, trong đó giáo dục tại xã, phường thị trấn 28.000 đối tượng, đưa vào trường giáo dưỡng 1.500 đối tượng, đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc 3.400 đối tượng, đưa vào cơ cở cai nghiện bắt buộc gần 20.000 đối tượng, áp dụng các biện pháp thay thế trên 2.500 đối tượng. Số hồ sơ đề nghị áp dụng các biện pháp xử lý hành chính có chiều hướng gia tăng qua các năm, nhưng tập trung chủ yêu ở biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn và đưa vào cở sở cai nghiện bắt buộc. Số hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào Trường giáo dưỡng và Cơ sở giáo dục bắt buộc rất hạn chế. Biện pháp thay thế xử lý vi phạm hành chính đối với người chưa thành niên thường xuyên được áp dụng là nhắc nhở do hiệu quả áp dụng cao, các đối tượng này thường được gia đình phối hợp giám sát, động viên nên không tái phạm.
         Một số khó khăn
         Thời gian đầu, khi Luật Xử lý vi phạm hành chính có hiệu lực, các Nghị định, Thông tư hướng dẫn và xử lý vi phạm hành chính ở các lĩnh vực chuyên ngành ban hành chưa kịp thời, đầy đủ đã làm chậm quá trình thực hiện các quy định mới của Luật trong thực tế đời sống kinh tế xã hội. Bên cạnh đó, kinh phí, cơ sở vật chất, kỹ thuât, tổ chức bộ máy, nhân sự ở nhiều địa phương còn thiếu, nhất là trong lĩnh vực xử lý vi phạm hành chính về xây dựng, đất đai, môi trường, giao thông vận tải. Đến cuối năm 2016, Phòng phụ trách quản lý về xử lý vi phạm hành chính tại Sở Tư pháp mới cơ bản được thành lập và kiện toàn tại tất cả các địa phương trong Khu vực. Cán bộ, công chức làm công tác quản lý xử lý vi phạm hành chính tại các sở, ngành chủ yếu làm công tác kiêm nhiệm nên ảnh hưởng tới chất lượng và hiệu quả công việc.
 
Cảnh sát giao thông và kiểm lâm thực hiện xử lý vi phạm hành chính
         Hiện nay đã có Nghị định số 20/2016 ngày 30/3/2016 của Chính phủ quy định Cơ sở dữ liệu quốc gia về xử lý vi phạm hành chính, nhưng thực tế chưa xây dựng được Cơ sở dữ liệu quốc gia. Do vậy, việc lưu trữ thông tin và chia sẻ, cung cấp thông tin các đối tượng vi phạm hành chính chưa có, nên rất khó xác định những trường hợp vi phạm hành chính nhiều lần, hoặc tái phạm để được coi là tình tiết tăng nặng trong quá trình xử lý vi phạm hành chính. Ngoài ra, sự phối hợp giữa các cơ quan, đơn vị trong việc xử lý vi phạm hành chính còn chưa chặt chẽ, còn mất nhiều thời gian trao đổi thông tin, tài liệu… khi có các vụ việc liên quan đến nhiều ngành, địa phương. Nhận thức pháp luật của một số công chức và nhân dân còn hạn chế nên việc thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính chưa thực sự nghiêm, tình trạng khiếu nại, khiếu kiện còn xảy ra (hơn 800 vụ khiếu nại, 150 vụ khiếu kiện), một số đối tượng chây ỳ hoặc không thi hành quyết định xử phạt.

Xử phạt vi phạm bảo vệ môi trường
 
         Việc áp dụng các biện pháp xử lý hành chính ngày càng gia tăng, tuy nhiên, đối với các biện pháp do Tòa án nhân dân quyết định tại một số tỉnh triển khai còn lúng túng hoặc đã triển khai nhưng chưa đạt hiệu quả: Ninh Thuận (02 trường hợp), Phú Yên (19 trường hợp), Đăk Nông (50 trường hợp). Sự “ùn tắc” trong thủ tục lập hồ sơ đề nghị, xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng các đối tượng vi phạm, đặc biệt là các đối tượng nghiện ma túy ở ngoài cộng đồng ngày càng tăng, nguy cơ phát sinh các hành vi vi phạm pháp luật như trộm cắp, cướp giật, tiêm chích ma túy nơi công cộng, gây mất an ninh trật tự, an toàn xã hội ở một số địa phương trong thời gian vừa qua. Đến nay, Nghị định số 136/2016/NĐ-CP ngày 09/9/2016 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng BPXLHC đưa vào CSCNBB đã khắc phục được một phần khó khăn về thủ tục lập hồ sơ cũng như thẩm quyền xác định tình trạng nghiện, tuy nhiên vẫn tồn tại một số vướng mắc chưa được tháo gỡ. Các quy định về tiếp nhận, quản lý, cai nghiện tại cơ sở xã hội, thủ tục đưa người ra khỏi cơ sở cai nghiện sau khi chấp hành xong thời gian cai nghiện, trách nhiệm của cơ quan công an trong việc đảm bảo an ninh trật tự tại cơ sở cai nghiện ... chưa có văn bản điều chỉnh; các điều kiện về cơ sở vật chất, nhân lực còn hạn chế, gây nên một số vụ việc học viên cai nghiện trốn trại tại một số tỉnh Đồng Nai, Bà Rịa- Vũng Tàu, Đồng Tháp trong thời gian qua.
         Việc áp dụng Luật Xử lý vi phạm hành chính tại các địa phương còn khó khăn do một số quy định của Luật còn chưa rõ ràng và bất cập, như việc xác định đối tượng là cá nhân hay tổ chức; thẩm quyền tịch thu tang vật, phương tiện đối với tổ chức vi phạm hành chính; việc áp dụng hình thức xử phạt bổ sung tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính; Việc xác định giá trị tang vật vi phạm hành chính là hàng cấm; Về việc bảo quản tang vật, phương tiện sau khi hết thời hạn tạm giữ;.. Bên cạnh đó còn có một số vấn đề chưa được quy định, như: thời điểm người ra quyết định cưỡng chế phải tổ chức thực hiện việc cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính; các vấn đề liên quan đến việc xử phạt vi phạm hành chính của chức danh Trưởng đoàn thanh tra; việc xác định thế nào là “hành vi vi phạm hành chính đã kết thúc”, “hành vi vi phạm hành chính đang được thực hiện” (quy định tại điểm b khoản 1 Điều 6 của Luật xử lý vi phạm hành chính), “vụ việc đặc biệt nghiêm trọng, có nhiều tình tiết phức tạp” (Điều 66 Luật xử lý vi phạm hành chính), “cố tình trốn tránh, trì hoãn” và “thời điểm chấm dứt hành vi trốn tránh, trì hoãn” (Điều 74 Luật xử lý vi phạm hành chính)…
 
Học viên cai nghiện trốn trại tại Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu

         Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 97/2017/NĐ-CP ngày 18/8/2017, sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 81/2013/NĐ-CP ngày 19/7/2013 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật xử lý vi phạm hành chính. Nghị định 97/2017/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 05/10/2017 đã bổ sung quy định về các tiêu chí xác định đối tượng vi phạm hành chính là tổ chức; bổ sung thêm thẩm quyền xử phạt của Trưởng đoàn Thanh tra chuyên ngành vào khoản 3 Điều 5 Nghị định 81/2013/NĐ-CP; thẩm quyền tịch thu tang vật, phương tiện đối với tổ chức vi phạm hành chính; thẩm quyền xử phạt trong trường hợp tang vật vi phạm hành chính là hàng cấm. Trong thời gian tới, hi vọng phần lớn các khó khăn sẽ được tháo gỡ, công tác xử lý vi phạm hành chính sẽ được áp dụng thống nhất, nhanh chóng và hiệu quả.
          Một số kiến nghị
        Trong thời gian tới, để tổ chức thực hiện có hiệu quả pháp luật về xử lý vi phạm hành chính, cần tăng cường thực hiện đồng bộ các giải pháp sau:
         Thứ nhất: Về thể chế, sau khi thực hiện tổng kết việc thi hành Luật Xử lý vi phạm hành chính, cần nhận diện đầy đủ những khó khăn, bất cập của Luật để có hướng sửa đổi, bổ sung cho phù hợp. Bên cạnh đó, cần rà soát các Nghị định xử lý vi phạm hành chính chuyên ngành để đảm bảo tính đồng bộ, khả thi. Ngoài ra, cần nhanh chóng triển khai xây dựng Cơ sở dữ liệu quốc gia về xử lý vi phạm hành chính, làm cơ sở cho việc lưu trữ thông tin và chia sẻ, cung cấp thông tin các đối tượng vi phạm hành chính, xác định số lần vi phạm để xử lý đúng theo pháp luật.
        Thứ hai: Cần đảm bảo đủ nguồn lực về điều kiện cơ sở vật chất, nhân lực cho công tác xử lý vi phạm hành chính, đặc biệt là kinh phí cho hoạt động kiểm tra, điều tra, khảo sát, thống kê… Tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn các văn bản quy phạm pháp luật và các văn bản nghiệp vụ chuyên ngành, tập trung vào công tác xử phạt vi phạm hành chính và áp dụng các biện pháp xử lý hành chính cho đội ngũ quản lý và trực tiếp làm công tác xử lý vi phạm hành chính.
        Thứ ba: Tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật, đồng thời đổi mới nội dung, hình thức tuyên truyền các quy định về xử lý vi phạm hành chính đảm bảo phù hợp với từng nhóm đối tượng ở các khu vực khác nhau, nhằm nâng cao nhận thức và ý thức tuân thủ pháp luật của nhân dân.
         Thứ tư: Thường xuyên kiểm tra, đôn đốc việc tổ chức thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính, xử lý nghiêm các cá nhân, đơn vị có hành vi vi phạm, để xảy ra sai sót, hạn chế theo quy định; nâng cao vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan của người có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính.
       Thứ năm: Nâng cao trách nhiệm và hiệu quả phối hợp giữa các Bộ, ngành Trung ương và địa phương trong công tác quản lý và xử lý vi phạm hành chính, kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc phát sinh trong thực tiễn.
       Thứ sáu, Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, nhất là công tác xây dựng, nhập dữ liệu, tra cứu phần mềm cơ sở dữ liệu quốc gia về xử lý vi phạm hành chính. Điều này góp phần quan trọng cho việc xử lý vi phạm hành chính được thực hiện khoa học, chính xác và nhanh chóng./.

                                                                                                                          Hà My
 

[1] Các tỉnh chưa ban hành Quy chế: Bến Tre, Bình Phước, Đồng Nai, Khánh Hòa, Tây Ninh.