Tình hình công tác tổ chức cán bộ của các cơ quan tư pháp ở địa phương trong Khu vực phía Nam
Sign In
  • * Chào mừng Quý vị và các bạn đến với Trang thông tin điện tử Cục Công tác phía Nam, Bộ Tư pháp *

Nghiên cứu trao đổi kinh nghiệm

Tình hình công tác tổ chức cán bộ của các cơ quan tư pháp ở địa phương trong Khu vực phía Nam

Trong những năm gần đây, nhiệm vụ của các cơ quan tư pháp ngày càng được bổ sung, cơ cấu tổ chức của các cơ quan tư pháp địa phương cũng được kiện toàn để đáp ứng với yêu cầu thực hiện các nhiệm vụ được giao. Để góp phần điều chỉnh kịp thời và xây dựng hệ thống các cơ quan trong ngành tư pháp đồng bộ, thống nhất, hoạt động chất lượng, hiệu quả, tạo cơ sở cho hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ và tổ chức của các cơ quan chuyên môn giúp Uỷ ban nhân dân quản lý nhà nước về công tác tư pháp ở địa phương, Thông tư liên tịch số 23/2014/TTLT-BTP-BNV đã được ban hành và có hiệu lực thi hành từ ngày 15/02/2015 (Thông tư liên tịch số 23/2014/TTLT-BTP-BNV) đến nay.

I. Tình hình về công tác tổ chức cán bộ của các cơ quan tư pháp ở địa phương khu vực phía Nam
  1. Cơ cấu tổ chức, biên chế của các cơ quan tư pháp ở địa phương trong Khu vực, trình độ chuyên môn của công chức
1.1. Cơ cấu tổ chức, biên chế
Cơ quan tư pháp ở địa phương bao gồm Sở Tư pháp (STP), Phòng Tư pháp (PTP) cấp huyện và công chức Tư pháp - Hộ tịch cấp xã.
* Lãnh đạo Sở Tư pháp:
Theo quy định tại Thông tư liên tịch số 23/2014/TTLT-BTP-BNV, STP các địa phương có Giám đốc và không quá 03 Phó Giám đốc; riêng TP. Hồ Chí Minh có không quá 04 Phó Giám đốc. Như vậy, khu vưc phía Nam có 25 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương sẽ có 101 lãnh đạo cấp Sở. Thực tế tại 25 STP trong khu vực, có 91 lãnh đạo cấp sở. Cụ thể, Tây Ninh và Kiên Giang chưa có Giám đốc STP; 08 địa phương có 02 Phó Giám đốc STP: Bạc Liêu, Bình Phước, Đắk Nông, Đồng Nai, Đồng Tháp, Kiên Giang, Lâm Đồng; TP. Hồ Chí Minh có 03 Phó Giám đốc STP.
* Các phòng tham mưu, tổng hợp và chuyên môn nghiệp vụ của Sở Tư pháp
Số lượng các đơn vị cấp phòng chuyên môn, nghiệp vụ trực thuộc STP trong khu vực là 205 đơn vị với 1012 biên chế hành chính/2.331 biên chế thực hiện 34 đầu việc. Cụ thể, 21/25 STP có 08 đơn vị; 02/25 STP[1] có 09 đơn vị; TP. Hồ Chí Minh có 11 đơn vị.
Tuy nhiên, số lượng biên chế tại một số phòng chuyên môn còn ít, nhiều phòng chỉ có 2 đến 3 công chức, nhất là Thanh tra Sở thường chỉ có 2 công chức. Cá biệt, tại Phòng Bổ trợ tư pháp STP tỉnh Bạc Liêu chỉ có 01 công chức là trưởng phòng, các chuyên viên khác được “tăng cường” từ Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước của tỉnh; Phòng Quản lý xử lý và theo dõi thi hành pháp luật STP Vĩnh Long, Phòng Kiểm soát thủ tục hành chính STP Đồng Tháp có 02 công chức…
* Phòng Tư pháp
Trong khu vực, hiện có 206 PTP cấp huyện[2] với 1.333 biên chế, trong đó có 525 lãnh đạo cấp phòng thực hiện 26 lĩnh vực về tư pháp. Bình quân biên chế của PTP trong Khu vực là 5,13 người, cao hơn bình quân chung biên chế của PTP trên cả nước[3]0,53 người. Tuy nhiên, có nhiều PTP chỉ có 2 cán bộ[4].
* Công chức Tư pháp - Hộ tịch cấp xã
Trong Khu vực, tổng số công chức Tư pháp - Hộ tịch giúp UBND cấp xã thực hiện nhiệm vụ tư pháp là 5.821 người, trong đó có 2.627/3.619 xã, phường, thị trấn đã bố trí từ 2 công chức Tư pháp - Hộ tịch cấp xã trở lên (chiếm 84,01%), cao hơn bình quân chung cả nước[5] là 25,21%.
1.2. Trình độ chuyên môn của công chức làm công tác tư pháp tại địa phương
Qua theo dõi, công chức, viên chức tại các STP, có 1.584/2.331 người có trình độ Đại học luật, 104 người có trình độ sau đại học luật, trong đó đặc biệt có 03 tiến sĩ luật hiện đang công tác tại STP (Cần Thơ, Đồng Nai, Hậu Giang).
Trong Khu vực, có 1.072/1.333 công chức PTP cấp huyện có trình độ Đại học luật, 28 thạc sĩ luật; có 1.320/5.821 công chức Tư pháp - Hộ tịch cấp xã có trình độ trung cấp luật, 3.619/5.821 công chức có trình độ Đại học luật, 08 công chức Tư pháp - Hộ tịch cấp xã có trình độ thạc sĩ luật (Vĩnh Long 2, Bà Rịa - Vũng Tàu 5, TP. Hồ Chí Minh 1).
 
Biểu số 1: Trình độ công chức làm công tác tư pháp tại STP trong Khu vực   Biểu số 2: Trình độ công chức tư pháp của PTP cấp huyện
Biểu số 3: Trình độ công chức Tư pháp - Hộ tịch cấp xã trong Khu vực
2. Vai trò của Sở Tư pháp trong công tác tổ chức cán bộ tại địa phương
2.1. Vai trò tham mưu của STP đối với Ủy ban nhân dân cấp tỉnh
Các STP địa phương đã triển khai phổ biến, quán triệt nội dung Thông tư liên tịch số 23/2014/TTLT-BTP-BNV đến công chức làm công tác tư pháp đồng thời tham mưu Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xây dựng Kế hoạch và tổ chức thực hiện, cụ thể:
- 25/25 STP đã tham mưu Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành Quyết định quy định chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu của STP; ban hành Quy chế mẫu của PTP cấp huyện để PTP có căn cứ trình Ủy ban nhân dân cấp huyện ban hành Quyết định quy định chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu của PTP.
- Các STP đã tham mưu tốt cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành quyết định quy định về tiêu chuẩn chức danh cấp Trưởng, Phó các đơn vị thuộc STP, Trưởng phòng, Phó Trưởng PTP thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện để làm căn cứ bổ nhiệm cán bộ, đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước và của ngành Tư pháp. Thông thường, các cơ quan có thẩm quyền bổ nhiệm sẽ căn cứ vào tiêu chuẩn chung và tiêu chuẩn cụ thể để nhận xét, đánh giá, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, điều động, luân chuyển các chức danh Trưởng, Phó các đơn vị thuộc STP, Trưởng phòng, Phó Trưởng PTP thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện, đáp ứng yêu cầu, chức năng, nhiệm vụ được giao.
Ngoài ra, STP An Giang còn thể hiện được “tiếng nói” của mình trong việc bổ nhiệm Trưởng phòng, Phó Trưởng PTP thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện. Theo đó, trước khi thực hiện bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, luân chuyển chức danh Trưởng phòng, Phó Trưởng PTP, Ủy ban nhân dân cấp huyện thường có văn bản lấy ý kiến của STP về khả năng nắm vững chuyên môn, nghiệp vụ, quản lý nhà nước trong lĩnh vực tư pháp … của công chức dự kiến bổ nhiệm.
- Thực hiện rà soát biên chế công chức, điều chuyển sắp xếp công chức, viên chức của STP, PTP bảo đảm triển khai thực hiện các nhiệm vụ theo quy định; bố trí đúng chức danh, tiêu chuẩn và cố gắng không bố trí công chức Tư pháp - Hộ tịch kiêm nhiệm các chức danh khác.
- Chủ trì, phối hợp Sở Nội vụ xây dựng, thẩm định Đề án vị trí việc làm và cơ cấu ngạch công chức của STP, PTP cấp huyện và Đề án vị trí việc làm trong các đơn vị sự nghiệp công lập thuộc STP làm cơ sở cho việc kiện toàn, quản lý và sử dụng hiệu quả đội ngũ cán bộ các cơ quan tư pháp địa phương.
Một số STP còn có những cách làm hay, sáng tạo để nâng cao chất lượng hoạt động của công chức tư pháp các cấp trong việc phục vụ nhân dân như Đồng Nai thực hiện đối thoại giữa Giám đốc Sở Tư pháp với công chức Tư pháp - Hộ tịch cấp xã, cấp huyện; Bình Dương thực hiện mô hình “chính quyền thân thiện”, gửi thư chúc mừng khi công dân kết hôn hoặc có thêm thành viên mới, thư chia buồn khi gia đình công dân có tang, thư xin lỗi khi công chức tư pháp thực hiện chưa đúng quy định, chậm trả kết quả cho dân; Cần Thơ thực hiện giao ban giữa Lãnh đạo Sở Tư pháp, lãnh đạo phòng với tư pháp huyện, xã hàng quý…
2.2. Công tác báo cáo giữa STP và Bộ Tư pháp trong công tác tổ chức cán bộ
Các STP địa phương[6] thực hiện nghiêm túc, có chất lượng các báo cáo liên quan đến công tác tổ chức cán bộ theo yêu cầu của các đơn vị thuộc Bộ Tư pháp để thực hiện Luật hộ tịch, Luật lý lịch tư pháp, Thông tư liên tịch số 23/2014/TTLT-BTP-BNV... Bên cạnh việc gửi các báo cáo chuyên đề, các địa phương cũng chủ động gửi văn bản về Bộ khi có những thay đổi về tổ chức của cơ quan tư pháp địa phương; những thuận lợi, khó khăn, vướng mắc và các giải pháp khắc phục trong thực hiện nhiệm vụ; những sáng kiến, cách làm hay trong hoạt động tư pháp địa phương như việc tăng cường công chức để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ cao điểm, đề xuất Ủy ban nhân dân tỉnh thêm biên chế, thêm Hợp đồng lao động để nhập dữ liệu thông tin lý lịch tư pháp[7] ...
Việc bổ nhiệm Giám đốc STP, Phó Giám đốc STP chưa làm nổi bật vai trò của Bộ Tư pháp. Theo quy định, trong quý II/2015, Vụ Tổ chức cán bộ tham mưu Bộ Tư pháp ban hành quy định về tiêu chuẩn Giám đốc STP và Phó Giám đốc STP thay thế Quyết định số 07/2006/QĐ-BTP ngày 01/8/2006 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp nhưng đến nay chưa ban hành mà các địa phương vẫn sử dụng quy định cũ.
2.3. Công tác đào tạo, bồi dưỡng công chức làm công tác tư pháp
Các STP đã xây dựng và trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phê duyệt Đề án kiện toàn tổ chức cán bộ và Kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ STP, PTP và công chức Tư pháp - Hộ tịch cấp xã theo quy định.
Các địa phương thực hiện khá tốt công tác đào tạo, bồi dưỡng công chức gắn với vị trí việc làm, đáp ứng tình hình thực tế và yêu cầu về nguồn nhân lực tư pháp[8]. Căn cứ theo chương trình khung do Bộ Tư pháp xây dựng, công tác đào tạo, bồi dưỡng cho đội ngũ công chức Tư pháp - Hộ tịch cấp xã đang tiếp tục được quan tâm đẩy mạnh thông qua việc tập trung chuẩn bị kỹ tài liệu bồi dưỡng, sử dụng giảng viên, báo cáo viên có năng lực.
Bên cạnh đó, các STP cũng đang thực hiện chuẩn hóa đội ngũ công chức Tư pháp - Hộ tịch trong giai đoạn chuyển tiếp 2015-2019 theo quy định của Luật Hộ tịch và văn bản số 10-CV/BCS ngày 20/01/2016 của Ban Cán sự Đảng Bộ Tư pháp[9], các công chức Tư pháp - Hộ tịch có chuyên ngành đào tạo khác đang hoàn thiện kiến thức về luật theo quy định.
Tóm lại, qua 3 năm thực hiện Thông tư liên tịch số 23/2014/TTLT-BTP-BNV, công tác tổ chức cán bộ tại cơ quan tư pháp địa phương ngày càng đi vào nề nếp, ổn định, cơ cấu tổ chức của STP, PTP, công chức Tư pháp – Hộ tịch cấp xã ngày càng được ổn định và được sự quan tâm của cấp ủy, chính quyền địa phương; công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng công chức làm công tác tư pháp được thực hiện khá tốt. Tại đợt bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIV và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2016-2021, nhiều công chức tư pháp địa phương được nhân dân tín nhiệm trúng cử Đại biểu Quốc hội, Đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp[10] đã thể hiện được uy tín và vai trò của công chức và ngành tư pháp nói chung nhưng cũng đặt ra thách thức đối với việc thiếu hụt công chức có kinh nghiệm, kiến thức chuyên sâu làm công tác tư pháp, hộ tịch tại địa phương
II. Những khó khăn, kiến nghị
1. Khó khăn
- Công tác tham mưu, định hình tổ chức bộ máy của STP mang tính tổng thể, dài hạn chưa đạt kết quả như mong muốn. Việc tuyển dụng biên chế phụ thuộc vào chỉ tiêu của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phân bổ nên chưa có giải pháp đột phá để thu hút, giữ chân những cán bộ có năng lực, trình độ cao cống hiến cho ngành.
- Một số lãnh đạo STP được bổ nhiệm từ các nguồn ngoài ngành tư pháp[11], bên cạnh những đồng chí nhanh nhạy, nắm bắt nhanh, vẫn còn có đồng chí còn chưa bắt kịp được quy định cũng như kinh nghiệm thực tiễn công tác tư pháp còn hạn chế, ảnh hưởng đến hiệu quả lãnh đạo, chỉ đạo điều hành công tác tư pháp địa phương.
- Công chức làm công tác tư pháp ở địa phương vẫn chưa ổn định, nhất là sau những lần bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp, nhiều công chức tư pháp được bổ nhiệm giữ vị trí lãnh đạo, dẫn đến bổ sung công chức mới, nghiệp vụ hạn chế hơn.
- Tỷ lệ công chức tư pháp hộ tịch có trình độ khác luật còn cao cả 03 cấp: STP chiếm 22%, cấp huyện chiếm 17% và cấp xã 14%[12]. Đòi hỏi sự nỗ lực của các địa phương để đảm bảo chuẩn hóa đội ngũ công chức theo quy định của Luật Hộ tịch trong thời gian đến 31/12/2019.
- Việc bố trí biên chế để thực hiện các nhiệm vụ mới của ngành Tư pháp gặp nhiều khó khăn, trong khi công việc được giao ngày càng nhiều, như: chưa đảm bảo bố trí ít nhất 03 biên chế thực hiện nhiệm vụ quản lý và cấp phiếu lý lịch tư pháp theo Quyết định số 2369/QĐ-TTg ngày 28/12/2010 của Chính phủ; bổ sung 03-05 biên chế thực hiện nhiệm vụ quản lý xử lý vi phạm hành chính theo Quyết định số 1950/QĐ-TTg ngày 25/10/2013 của Thủ tướng Chính phủ; phân cấp đăng ký hộ tịch có yếu tố nước ngoài cho PTP cấp huyện; thẩm tra hồ sơ, xét, công nhận xã đạt Chuẩn tiếp cận pháp luật….
- Mỗi năm, số vụ việc đăng ký hộ tịch có yếu tố nước ngoài khoảng 30.933 việc, bình quân 1 PTP giải quyết khoảng 150,2 việc/năm với số lượng công chức PTP chỉ là khoảng 5,13 người và phải đảm bảo đúng quy định pháp luật, quy trình, thời gian giải quyết là một áp lực đối với các PTP địa phương.  Nhiều địa phương, Ủy ban nhân dân cấp huyện đã phải tăng cường công chức bộ phận một cửa để giúp PTP trong việc nhận và trả kết quả giải quyết hồ sơ.
- Việc bố trí công chức làm công tác hộ tịch chưa đúng với tiêu chuẩn theo quy định còn phổ biến; vẫn còn tình trạng sử dụng biên chế công chức tư pháp – hộ tịch cho chức danh khác hoặc yêu cầu công chức tư pháp – hộ tịch kiêm nhiệm công tác khác.
2. Kiến nghị
2.1. Đối với Bộ Tư pháp
- Vụ Tổ chức cán bộ chủ trì, phối hợp với các đơn vị thuộc Bộ Tư pháp sớm xây dựng và trình Bộ trưởng ban hành quy định về tiêu chuẩn Giám đốc STP và Phó Giám đốc STP thay thế Quyết định số 07/2006/QĐ-BTP ngày 01/8/2006 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp về việc ban hành tiêu chuẩn Giám đốc STP.
- Cục Công nghệ thông tin chủ trì phối hợp với các đơn thuộc Bộ đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin để đạt được hiệu quả và tiến độ so với yêu cầu đặt ra; nâng chất lượng các dịch vụ công trực tuyến do Bộ, Ngành Tư pháp cung cấp, hiệu quả ứng dụng một số phần mềm, nâng cao chất lượng, hiệu quả công việc.
- Học viện Tư pháp, các Trường Trung cấp Luật thuộc Bộ tổ chức các lớp đào tạo, đào tạo lại, bồi dưỡng về chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ tư pháp địa phương.
2.2. Đối với các Sở Tư pháp
- Trình Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh không giảm biên chế của STP bởi hiện nay, STP đóng vai trò quan trọng trong việc tham mưu chính sách cho chính quyền địa phương, xây dựng, kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật.
- Tham mưu Ủy ban nhân tỉnh có chính sách bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ sâu cho công chức làm công tác tư pháp.
- Đối với PTP có dưới 03 biên chế, đề nghị xin bổ sung thêm từ 01 đến 02 biên chế để đáp ứng một số nhiệm vụ mới được bổ sung như đăng ký hộ tịch có yếu tố nước ngoài, thẩm tra hồ sơ, trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện xét công nhận xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật… Đối với những địa bàn đông dân cư, cố gắng bố trí ít nhất 05 công chức/PTP.
- Chú trọng nâng cao năng lực, nhất là trình độ chuyên môn nghiệp vụ của công chức, viên chức để đáp ứng các điều kiện do Bộ Tư pháp và quy định pháp luật hiện nay./.
 
 

[1] Cần Thơ có Phòng Lý lịch tư pháp; Bình Phước có Phòng Tổ chức cán bộ. Kể từ 01/9/2017, Phòng Tổ chức cán bộ của STP Long An được sáp nhập vào Văn phòng STP theo Đề án 1272/ĐA-STP ngày 10/8/2017.
[2] Riêng huyện đảo Trường Sa, tỉnh Khánh Hòa chưa có PTP.
[3] Bình quân biên chế PTP trên cả nước là 4,6 người/PTP.
[4] Một số PTP có 2 công chức: TX Duyên Hải, huyện Duyên Hải (Trà Vinh), huyện Cù Lao Dung (Sóc Trăng), thị xã Long Mỹ (Hậu Giang), huyện Đông Hòa (Phú Yên).
[5] Bình quân chung cả nước có 58,8% xã, phường, thị trấn có từ 2 công chức Tư pháp - Hộ tịch cấp xã trở lên.
[6] Một số địa phương tiêu biểu gửi báo cáo chất lượng: Đồng Nai, TP. Hồ Chí Minh, Bình Dương, Tiền Giang, Cà Mau, An Giang, Bạc Liêu….
[7] Để giải quyết số lượng thông tin LLTP còn tồn đọng là 135.201 thông tin (cao nhất trong Khu vực) tại TP. Hồ Chí Minh, STP đã hợp đồng thêm 39 người; Hậu Giang hợp đồng thêm 5 người, Bà Rịa – Vũng Tàu hợp đồng thêm 3 người. Các Sở Tư pháp khác như Ninh Thuận, Kiên Giang, Tiền Giang thì tăng cường công chức các phòng khác sang.
[8] Mỗi năm, các địa phương thường tổ chức các lớp bồi dưỡng, bồi dưỡng chuyên sâu cho công chức tư pháp cấp huyện và Tư pháp - Hộ tịch cấp xã về chứng thực, hộ tịch, hòa giải cơ sở và các văn bản pháp luật liên quan đến công tác tư pháp.
[9] Ban cán sự Đảng Bộ Tư pháp đề nghị Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Thành ủy các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Lãnh đạo HĐND và UBND cùng cấp tiếp tục quan tâm, chỉ đạo sát sao việc kiện toàn tổ chức bộ máy, sắp xếp, chuẩn hóa đội ngũ cán bộ, công chức các cơ quan tư pháp địa phương, thời gian hoàn thành trước 01/7/2016.
[10] Trong Khu vực có 16/20 đồng chí Lãnh đạo STP trúng cử, cụ thể: 03 đồng chí Lãnh đạo STP trúng cử Đại biểu Quốc hội; có 13 đồng chí Lãnh đạo STP trúng cử HĐND cấp tỉnh và rất nhiều công chức tư pháp cấp huyện, xã trúng cử HĐND huyện, xã và được bổ nhiệm các chức vụ cao hơn.
[11] Chủ yếu từ tỉnh ủy, ủy ban nhân dân tỉnh, thanh tra, viện kiểm sát, tòa án nhân dân, cục thi hành án dân sự …
[12] Một số địa phương có công chức Tư pháp – Hộ tịch có trình độ từ trung cấp Luật trở lên thấp như: Ninh Thuận, Phú Yên, Bình Phước…
Minh Long