Một số khó khăn, vướng mắc khi thi hành Luật Quốc tịch và các văn bản quy định chi tiết hướng dẫn thi hành tại các tỉnh khu vực phía Nam
Sign In
  • * Chào mừng Quý vị và các bạn đến với Trang thông tin điện tử Cục Công tác phía Nam, Bộ Tư pháp *

Nghiên cứu trao đổi kinh nghiệm

Một số khó khăn, vướng mắc khi thi hành Luật Quốc tịch và các văn bản quy định chi tiết hướng dẫn thi hành tại các tỉnh khu vực phía Nam

        Khu vực phía Nam là địa bàn chiến lược, là trung tâm kinh tế, công nghiệp lớn nhất của cả nước, là điểm đến hấp dẫn cho các nhà đầu tư nước ngoài, người Việt Nam định cư nước ngoài về nước đầu tư, sinh sống, quan hệ trao đổi hợp tác, giao dịch trên nhiều lĩnh vực, tập trung tại các tỉnh/thành phố như (TP Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bình Dương….). Bên cạnh đó, khu vực phía Nam có 07 địa phương có đường biên giới giáp Campuchia (An Giang, Đồng Tháp, Long An, Kiên Giang, Tây Ninh, Bình Phước, Đăk Nông), người di cư từ Campuchia về cư trú trên địa bàn các tỉnh giáp biên giới tương đối nhiều, ngày một gia tăng. Đồng thời, ở các tỉnh miền Tây có nhiều phụ nữ kết hôn với công dân nước ngoài như: Trung Quốc (Đài Loan), Hàn Quốc, Hoa Kỳ…Do vậy, nhu cầu giải quyết các việc liên quan đến quốc tịch ngày một nhiều, đa dạng và phức tạp. Qua công tác quản lý theo dõi tình hình thực hiện Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008 và các văn bản quy định chi tiết hướng dẫn thi hành tại khu vực phía Nam trong thời gian qua, một số khó khăn, vướng mắc đã được các địa phương nêu, cụ thể như sau:
        Thứ nhất, một số quy định không phù hợp với các quy định của Luật nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam, cụ thể: Đối với công dân Việt Nam ở nước ngoài đồng thời có quốc tịch Việt Nam, khi nhập cảnh vào Việt Nam bằng hộ chiếu nước ngoài thì theo quy định của Luật nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam, thì họ được quản lý cư trú như người nước ngoài, họ không được đăng ký tạm trú, thường trú như công dân Việt Nam.
       Thứ hai, Điều 12 Luật quốc tịch năm 2008 quy định: “vấn đề phát sinh từ tình trạng công dân Việt Nam đồng thời có quốc tịch nước ngoài được giải quyết theo điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên, trường hợp chưa có điều ước quốc tế thì được giải quyết theo tập quán và thông lệ quốc tế”. Tuy nhiên đến nay, Việt Nam chưa ký kết các Điều ước quốc tế với quốc gia khác về giải quyết xung đột pháp luật về quốc tịch nên không giải quyết được thực tiễn phát sinh nếu có.
         Thứ ba,  Khoản 2 Điều 16 Luật quốc tịch Việt Nam quy định: “Trẻ em khi sinh ra có cha hoặc mẹ là công dân Việt Nam còn người kia là công dân nước ngoài thì có quốc tịch Việt Nam, nếu có sự thỏa thuận bằng văn bản của cha mẹ vào thời điểm đăng ký khai sinh cho con”.
Như vậy, người có cha hoặc mẹ là công dân Việt Nam còn người kia là người nước ngoài, quốc tịch của họ được xác định khi sinh ra và theo thỏa thuận cha mẹ. Nếu họ muốn thay đổi quốc tịch thì tự họ (khi đã trưởng thành) phải  làm thủ tục xin nhập quốc tịch Việt Nam (nếu trước đây cha mẹ người đó lựa chọn quốc tịch nước ngoài cho họ). Trong thực tiễn, những trường hợp trẻ em là con của công dân Việt Nam và người nước ngoài, có quốc tịch nước ngoài, sinh sống ở Việt Nam gặp rất nhiều khó khăn trong cuộc sống. Trẻ em Việt Nam là con của phụ nữ Việt Nam kết hôn với đàn ông Hàn Quốc, Trung quốc, Trung quốc (Đài Loan) nay đã ly hôn hoặc hôn nhân không hạnh phúc, họ mang con trở về Việt Nam sinh sống ngày càng nhiều và trẻ em nay gặp rất nhiều khó khăn trong việc học tập, bảo vệ sức khỏe và các quyền lợi khác cần được giải quyết.
Trong khi Luật trẻ em không phân biệt trẻ em có quốc tịch Việt Nam hay không có quốc tịch Việt nam đều được chăm sóc, bảo vệ như nhau, nhưng trên thực tế, trẻ em là con của công dân Việt Nam và người nước ngoài có quốc tịch nước ngoài đang cư trú ở Việt Nam gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp cận các phúc lợi xã hội về giáo dục, y tế…
        Thứ tư, Khoản 3 Điều 19 và Khoản 5 Điều 23 Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008 quy định các trường hợp xin nhập quốc tịch, xin trở lại quốc tịch Việt Nam thì phải xin thôi quốc tịch nước ngoài (nếu có), chỉ những trường hợp đặc biệt, nếu được Chủ tịch nước cho phép thì được giữ lại quốc tịch nước ngoài, nhưng không có quy định hoặc hướng dẫn cụ thể thế nào là “trường hợp đặc biệt” và giấy tờ chứng minh thuộc trường hợp đặc biệt.
        Thứ năm, Điều 20 Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008 quy định hồ sơ xin nhập quốc tịch Việt Nam đối với người đã có thời gian cư trú ở nước ngoài phải nộp Phiếu lý lịch tư pháp do cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài cấp. Trên thực tế, nhiều trường hợp người không quốc tịch (người Hoa, Campuchia tị nạn) xin nhập quốc tịch Việt Nam, có thời gian cư trú ở nước ngoài, nhưng không có giấy tờ chứng minh, không xin được Phiếu Lý lịch tư pháp về thời gian cư trú ở nước ngoài, nên không nộp được hồ sơ xin nhập quốc tịch Việt Nam.
        Thứ sáu, Khoản 3 Điều 27 Luật Quốc tịch quy định “Người xin thôi quốc tịch Việt Nam không được thôi quốc tịch Việt Nam, nếu việc đó làm phương hại đến lợi ích quốc gia của Việt Nam”. Quy định này không được hướng dẫn cụ thể gây khó khăn, lung túng trong việc đánh giá, kết luận hồ sơ xin thôi quốc tịch Việt Nam.
        Thứ bảy, về thay đổi quốc tịch của con chưa thành niên khi chỉ có cha hoặc mẹ được nhập quốc tịch Việt Nam, theo Điều 35 Luật Quốc tịch thì phải có thỏa thuận của cha mẹ về việc thay đổi quốc tịch của con. Trên thực tế, nhiều trường hợp trẻ em là con của phụ nữ Việt Nam và đàn ông nước ngoài, hiện nay theo mẹ về Việt Nam sinh sống sau khi ly hôn, hoặc chưa ly hôn thì cũng không nộp được hồ sơ do không có thỏa thuận của cha, mẹ về việc nhập quốc tịch Việt Nam của con.
        Thứ tám, về sự trao đổi thông tin, liên thông giữa quy định của pháp luật về quốc tịch trong mối quan hệ thực tiễn với đăng ký, quản lý cư trú; cấp, thu hồi, sử dụng Chứng minh nhân dân/ Căn cước công dân/ Hộ chiếu và các giấy tờ cá nhân khác (đặc biệt đối với người đã thôi quốc tịch Việt Nam). Theo quy định của Luật Quốc tịch Việt Nam và các văn bản quy định chi tiết thi hành, khi một người được giải quyết cho nhập, trở lại, thôi quốc tịch Việt Nam, công dân Việt Nam được nhập quốc tịch nước ngoài thì làm thủ tục ghi vào sổ hộ tịch việc thay đổi quốc tịch. Thực tế, các Sở Tư pháp không nhận được yêu cầu ghi vào sổ hộ tịch việc công dân Việt Nam có quốc tịch nước ngoài. Như vậy, việc thay đổi quốc tịch của một người chỉ được ghi nhận vào sổ hộ tịch, ngoài ra, các cơ quan quản lý khác hầu như không có thông tin (quản lý nhân hộ khẩu, quản lý xuất, nhập cảnh…). Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008 cũng không quy định việc thu hồi hoặc hủy bỏ các giấy tờ chứng minh quốc tịch Việt Nam đối với những trường được thôi, bị tước quốc tịch Việt Nam.
Thực tế trong thời gian vừa qua, có nhiều trường hợp đã được thôi quốc tịch Việt Nam và có quốc tịch nước ngoài nhưng vẫn còn chứng minh nhân dân và tên trong hộ khẩu gia đình, vì vậy khi đăng ký các việc về hộ tịch, công chức tư pháp hộ tịch rất khó khăn khi xác định thẩm quyền giải quyết, nếu không phát hiện kịp thời sẽ dẫn đến giải quyết hậu quả pháp lý trong giải quyết các việc hộ tịch.
        Thứ chín, về giấy tờ chứng minh quốc tịch Việt Nam theo quy định tại Điều 11 Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008, hầu hết những trường hợp đăng ký khai sinh trước năm 1975 trên giấy không ghi quốc tịch nên việc yêu cầu xuất trình thêm giấy giấy tờ cha/mẹ để chứng minh quốc tịch gây bức xúc cho người dân vì nhiều trường hợp lớn tuổi cha/mẹ đã chết từ lâu nhưng không có đăng ký khai tử hoặc không có giấy tờ tùy thân của cha, mẹ./.
 
Trần Thị Tú – Phòng Công tác HCTP – BTTP