Phản ánh, kiến nghị của một số tỉnh Miền Đông Nam bộ về công tác tư pháp tại địa phương
Sign In
  • * Chào mừng Quý vị và các bạn đến với Trang thông tin điện tử Cục Công tác phía Nam, Bộ Tư pháp *

Phản ánh kiến nghị ở địa phương

Phản ánh, kiến nghị của một số tỉnh Miền Đông Nam bộ về công tác tư pháp tại địa phương

Khu vực phía Nam với 25 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương là địa bàn có hoạt động tư pháp, thi hành án dân sự sôi động nhất cả nước. Dướo đây là trả lời, hướng dẫn của Bộ Tư pháp về một số vấn đề phát sinh trong thực tiễn theo kiến nghị của 10 địa phương trong Khu vực.

A.  KIẾN NGHỊ CỦA UBND TỈNH ĐẮK NÔNG
I. LĨNH VỰC PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT

1. Đề nghị Bộ Tư pháp phối hợp với Bộ Tài chính tham mưu trình Chính phủ phê duyệt chế độ, chính sách đãi ngộ cho đội ngũ cán bộ, công chức tham gia trong Hội đồng phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật các cấp và đặc biệt là chế độ Báo cáo viên pháp luật các cấp.

Trả lời:

1.1. Đối với chế độ, chính sách cho đội ngũ cán bộ, công chức tham gia Hội đồng phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật (PBGDPL) các cấp:

Bộ Tư pháp đã tham mưu, trình Thủ tướng Chính phủ ký ban hành Quyết định số 27/2013/QĐ-TTg ngày 19/5/2013 về thành phần và nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật. Theo đó, tại Điều 6 của Quyết định đã quy định cụ thể “kinh phí hoạt động của Hội đồng và Ban Thư ký Hội đồng phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật do ngân sách nhà nước bảo đảm; được bố trí trong dự toán chi thường xuyên của cơ quan thường trực Hội đồng phối hợp PBGDPL các cấp và sử dụng theo quy định tài chính hiện hành”. Bên cạnh đó, Bộ Tư pháp đã phối hợp với Bộ Tài chính ban hành Thông tư liên tịch số 14/2014/TTLT-BTC-BTP ngày 27/01/2014 quy định về việc lập dự toán, quản lý, sử dụng kinh phí bảo đảm cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, trong đó hướng dẫn cụ thể nội dung chi, mức chi tại mục 1, Điều 4 của Thông tư. Trên cơ sở nội dung Quyết định này, đề nghị Ủy ban nhân dân tỉnh Đắk Nông thực hiện việc bố trí và bảo đảm kinh phí hoạt động của Hội đồng. Việc chi thù lao hàng tháng cho thành viên Hội đồng và thành viên Ban Thư ký Hội đồng sẽ tuỳ thuộc vào điều kiện ngân sách và quyết định của địa phương trong mức kinh phí cấp cho hoạt động của Hội đồng hàng năm.

1.2. Đối với chế độ chính sách cho đội ngũ báo cáo viên pháp luật các cấp:

Những năm qua, chế độ, chính sách đối với cán bộ làm công tác PBGDPL đã được từng bước quan tâm, nhất là đối với đội ngũ cán bộ làm công tác PBGDPL kiêm nhiệm như báo cáo viên pháp luật, tuyên truyền viên pháp luật. Luật phổ biến, giáo dục pháp luật, Thông tư số 10/2016/TT-BTP ngày 22/7/2016 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định về báo cáo viên pháp luật, tuyên truyền viên pháp luật đã quy định cụ thể về chế độ, chính sách đãi ngộ cho đội ngũ này.
Bên cạnh đó, Bộ Tư pháp đã phối hợp với Bộ Tài chính ban hành Thông tư liên tịch số 14/2014/TTLT-BTC-BTP ngày 27/01/2014 quy định về việc lập dự toán, quản lý, sử dụng kinh phí bảo đảm cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, trong đó hướng dẫn cụ thể nội dung chi, mức chi thù lao phục vụ hoạt động của đội ngũ này (khoản 8, 10 Điều 4; điểm b, khoản 1 Điều 5 và mục 2, Phụ lục Thông tư liên tịch). Mức chi, nội dung chi đảm bảo tương quan với các chế độ, chính sách quy định tại các văn bản pháp luật hiện hành có nội dung tương tự.
Tuy nhiên, do điều kiện ngân sách hạn hẹp, tại một số địa phương chưa dành nhiều sự quan tâm, bố trí kinh phí, tạo điều kiện về cơ sở vật chất, trang thiết bị, thời gian, tổ chức đào tạo, bồi dưỡng để nâng cao chất lượng, trình độ hoạt động của đội ngũ này. Bên cạnh đó, so với nhu cầu PBGDPL của nhân dân và yêu cầu triển khai thi hành các Luật, Pháp lệnh mới thì chế độ, chính sách dành cho đội ngũ này còn rất hạn chế, chưa tương xứng với yêu cầu nhiệm vụ. Trong thời gian tới, Bộ Tư pháp sẽ tiếp tục nghiên cứu, phối hợp với Bộ, ngành, đoàn thể, địa phương tiếp tục quan tâm, chỉ đạo, có chính sách, chế độ cụ thể hơn để phát huy vai trò của đội ngũ này tham gia có hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật.
 

B. KIẾN NGHỊ CỦA UBND TỈNH KHÁNH HÒA
I. LĨNH VỰC XÂY DỰNG, THẨM ĐỊNH VĂN BẢN QUY PHẠM  PHÁP LUẬT VÀ CÔNG TÁC PHÁP CHẾ

1. Đề nghị Bộ Tư pháp sớm tham mưu Chính phủ ban hành Nghị định sửa đổi, bổ sung Nghị định số 55/2011/NĐ-CP cho phù hợp với các quy định của pháp luật hiện hành và tình hình thực tiễn của các địa phương. Theo đó, tham mưu Chính phủ chỉ đạo các Bộ: Nội vụ, Tài chính xây dựng Thông tư quy định về tổ chức, bộ máy, biên chế của tổ chức pháp chế, quy định về chế độ phụ cấp ưu đãi cho những người làm công tác pháp chế, đặc biệt là cán bộ làm công tác pháp chế của các cơ quan chuyên môn thuộc tỉnh và người quản lý công tác pháp chế tại Bộ Tư pháp, Sở Tư pháp. Trước mắt, kiến nghị Bộ Tư pháp, Bộ Nội vụ xem xét việc bổ sung biên chế pháp chế cho các địa phương để thực hiện thành lập Phòng Pháp chế của các cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh, tạo điều kiện thuận lợi cho tỉnh trong việc thực hiện quy định của Nghị định số 55/2011/NĐ-CP ngày 04/7/2011 của Chính phủ.

Trả lời:

Thứ nhất, về việc tham mưu cho Chính phủ ban hành Nghị định sửa đổi, bổ sung Nghị định số 55/2011/NĐ-CP cho phù hợp với các quy định của pháp luật hiện hành và tình hình thực tiễn của các địa phương.

Thực hiện Công văn số 5592/VPCP-TCCV ngày 17/7/2015 của Văn phòng Chính phủ về việc thông báo ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, trong đó giao Bộ Tư pháp chủ trì, nghiên cứu để đề xuất sửa đổi Nghị định số 55/2011/NĐ-CP, Bộ Tư pháp đã phối hợp với các Bộ, ngành, địa phương xây dựng kế hoạch, tiến hành khảo sát, đánh giá việc thực hiện Nghị định số 55/2011/NĐ-CP. Hiện nay, trên cơ sở tổng hợp báo cáo, kiến nghị của các Bộ, ngành, địa phương, doanh nghiệp, Bộ Tư pháp đang tiến hành xây dựng Báo cáo đánh giá 05 năm việc thực hiện Nghị định, qua đó, sẽ kiến nghị với Chính phủ việc sửa đổi, bổ sung Nghị định số 55/2011/NĐ-CP cho phù hợp với các quy định của pháp luật hiện hành và tình hình thực tiễn của các địa phương.

Thứ hai, về việc xây dựng thông tư quy định về tổ chức, bộ máy, biên chế của tổ chức pháp chế

Trong thời gian qua, thực hiện các quy định của Nghị định số 55/2011/NĐ-CP, một số văn bản quy phạm pháp luật và các văn bản của Chính phủ đã quy định tương đối rõ về tổ chức, bộ máy và biên chế của tổ chức pháp chế. Chẳng hạn như: (1) Thông tư liên tịch số 23/2014/TTLT-BTP-BNV ngày 22/12/2014 giữa Bộ Tư pháp và Bộ Nội vụ hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Sở Tư pháp thuộc UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và Phòng Tư pháp thuộc UBND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh; (2) Kế hoạch số 1141-KH/BCSĐCP ngày 11/11/2016 của Ban Cán sự Đảng Chính phủ về việc thực hiện Kết luận số 01-KL/TW; (3) Công văn số 5592/VPCP-TCCV ngày 17/7/2015 của Văn phòng Chính phủ thông báo ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ về tổ chức và hoạt động của Phòng Pháp chế tại cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh.
Theo đó, các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tập trung thực hiện những nhiệm vụ nhằm tăng cường năng lực, bảo đảm hoạt động của các thiết chế xây dựng và thi hành pháp luật; tiếp tục rà soát kiện toàn cơ quan, tổ chức làm công tác xây dựng pháp luật, pháp chế, thi hành pháp luật ở Bộ, ban, ngành, chính quyền địa phương các cấp. Đồng thời, tiếp tục duy trì tổ chức pháp chế ở các Bộ, ngành, địa phương; căn cứ tình hình cụ thể của mỗi Bộ, ngành, địa phương để sắp xếp, bố trí, ổn định đội ngũ cán bộ bảo đảm đủ về số lượng, có trình độ, chất lượng phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ công việc. Vì vậy, mặc dù chưa ban hành Thông tư hướng dẫn về tổ chức, bộ máy, biên chế, Bộ Tư pháp đề nghị các Bộ, ngành, địa phương thực hiện đúng các văn bản nêu trên để tiếp tục thực hiện có hiệu quả Nghị định số 55/2011/NĐ-CP.

Thứ ba, về việc tham mưu Chính phủ quy định về chế độ phụ cấp ưu đãi cho những người làm công tác pháp chế, đặc biệt là cán bộ làm công tác pháp chế của các cơ quan chuyên môn thuộc tỉnh và người quản lý công tác pháp chế tại Bộ Tư pháp, Sở Tư pháp.

Ngay sau khi Nghị định số 55/2011/NĐ-CP được ban hành và có hiệu lực, Bộ Tư pháp đã chủ động phối hợp với các Bộ, ngành có liên quan xây dựng và ban hành Kế hoạch triển khai thi hành (Quyết định số 1477/QĐ-BTP ngày 23/8/2011 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp), theo đó, Bộ Tư pháp đã chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính, Bộ Nội vụ nghiên cứu, xây dựng dự thảo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ quy định chế độ phụ cấp theo nghề đối với người làm công tác pháp chế.
Trên cơ sở ý kiến thống nhất của đa số các Bộ, ngành, ngày 06/12/2011, Bộ Tư pháp đã trình Thủ tướng Chính phủ dự thảo Quyết định về chế độ phụ cấp ưu đãi theo nghề đối với người làm công tác pháp chế (Tờ trình số 42/TTr-BTP), sau đó, tại các Phiên họp của Chính phủ về xây dựng pháp luật, Bộ Tư pháp đã nhiều lần kiến nghị về vấn đề này. Thực hiện Kết luận số 63-KL/TW ngày 27/5/2013 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về cải cách chính sách tiền lương, bảo hiểm xã hội, trợ cấp ưu đãi người có công và định hướng cải cách đến năm 2020, Chính phủ đã chỉ đạo nghiên cứu về chế độ phụ cấp - trong đó có chế độ phụ cấp ưu đãi theo nghề sẽ được xử lý trong Đề án cải cách tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang và người lao động trong các doanh nghiệp.

Thứ tư, về việc xem xét việc bổ sung biên chế pháp chế cho các tỉnh để thực hiện thành lập Phòng Pháp chế của các cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh, tạo điều kiện thuận lợi cho tỉnh trong việc thực hiện quy định của Nghị định số 55/2011/NĐ-CP ngày 04/7/2011 của Chính phủ.

Trong những năm gần đây, Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm đến biên chế, tinh giản biên chế trong bộ máy nhà nước, theo đó, đã ban hành nhiều ban hành nhiều văn bản về vấn đề này như: Kết luận số 64-KL/TW ngày 28/5/2013 của Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khóa XI về tiếp tục đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị từ Trung ương đến cơ sở; Nghị quyết số 39-NQ/TW ngày 17/4/2015 của Bộ Chính trị về tinh giản biên chế và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; Nghị quyết số 53/2013/QH13 ngày 11/11/2013 của Quốc hội về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2014. Theo tinh thần các văn bản nêu trên thì từ nay đến năm 2016, về cơ bản giữ ổn định cơ cấu tổ chức Chính phủ và tổ chức cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh, cấp huyện và tiếp tục thực hiện chủ trương tinh giản biên chế, từ nay đến năm 2016 cơ bản không tăng tổng biên chế của cả hệ thống chính trị (trừ trường hợp lập thêm tổ chức hoặc được giao nhiệm vụ mới).
Thực hiện chủ trương nêu trên, Bộ Tư pháp đã tiến hành tổng rà soát về công tác tổ chức, cán bộ; thực hiện Đề án vị trí việc làm, tinh giản biên chế để có đề xuất, kiến nghị với Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ về tổ chức, biên chế cho phù hợp thực tế hiện nay, trong đó có biên chế, công chức làm công tác pháp chế.
Đối với công tác pháp chế ở các địa phương, trước hết cần phải được thực hiện đúng quy định của Nghị định số 55/2011/NĐ-CP và các văn bản khác liên quan đến công tác này. Để bố trí biên chế cho tổ chức pháp chế tại các cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh, đề nghị UBND tỉnh quan tâm tạo điều kiện để bố trí, sắp xếp biên chế làm công tác pháp chế tại các cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh trong tổng số biên chế được giao.
II. LĨNH VỰC QUẢN LÝ XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH VÀ THEO DÕI THI HÀNH PHÁP LUẬT

1. Đề nghị Bộ Tư pháp sớm tham mưu Chính phủ ban hành đầy đủ các Nghị định hướng dẫn thi hành Luật Xử lý vi phạm hành chính như Nghị định về cơ sở dữ liệu xử lý vi phạm hành chính, xây dựng phần mềm dùng chung, phần mềm thống kê về công tác xử lý vi phạm hành chính, xây dựng Cơ sở Dữ liệu quốc gia về xử lý vi phạm hành chính để triển khai thực hiện thống nhất trong toàn quốc.

Trả lời:
Thực hiện Quyết định số 1473/QĐ-TTg ngày 05/10/2012 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Kế hoạch triển khai và Danh mục nghị định quy định chi tiết thi hành Luật Xử lý vi phạm hành chính, Bộ Tư pháp đã khẩn trương chủ trì, phối hợp với các cơ quan hữu quan nghiên cứu, soạn thảo Nghị định quy định Cơ sở dữ liệu quốc gia về xử lý vi phạm hành chính và trình Chính phủ vào tháng 12/2015. Ngày 30/3/2016, Chính Phủ đã ký ban hành Nghị định số 20/2016/NĐ-CP quy định Cơ sở dữ liệu quốc gia về xử lý vi phạm hành chính, theo đó, Nghị định đã có hiệu lực thi hành từ ngày 15/5/2016.
Bên cạnh đó, Bộ Tư pháp cũng đã nghiên cứu, soạn thảo Đề án xây dựng Cơ sở dữ liệu quốc gia về xử lý vi phạm hành chính và đã trình Thủ tướng Chính phủ ngày 31/10/2016. Theo lộ trình được xác định trong Đề án, nếu được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt thì trong giai đoạn 2017 - 2019, việc xây dựng phần mềm quản lý thông tin về xử lý vi phạm hành chính sẽ được triển khai tại Bộ Tư pháp, 08 Bộ, cơ quan ngang Bộ và 31 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương để sớm triển khai thực hiện thống nhất trong toàn quốc, đáp ứng yêu cầu thực tiễn trong quản lý nhà nước cũng như quản lý xã hội.
III. LĨNH VỰC KIỂM SOÁT THỦ TỤC HÀNH CHÍNH

1. Đ nghị Bộ Tư pháp phối hợp và có ý kiến với các Bộ, ngành Trung ương công bố thủ tục hành chính kịp thời, đầy đ, thực hiện công bố, nhập dữ liệu trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về TTHC, gửi đầy đủ (bản giấy và file điện tử) và đăng tải trên Trang thông tin điện tử của Bộ, ngành đ địa phương dễ dàng trong việc đối chiếu, làm cơ  sở đối với việc công bố thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết[1].

Trả lời:
Việc công bố TTHC và nhập dữ liệu TTHC vào Cơ sở dữ liệu quốc gia về TTHC như đề nghị của các tỉnh vẫn đang được triển khai thực hiện theo quy định tại Thông tư 05/2014/TT-BTP ngày 07/02/2014 và Thông tư số 19/2014/TT-BTP ngày 15/9/2014 của Bộ Tư pháp.
Từ đầu năm đến nay, thông qua việc báo cáo Thủ tướng Chính phủ hàng tháng về tình hình, kết quả thực hiện công tác kiểm soát TTHC, Bộ Tư pháp thường xuyên đôn đốc các Bộ, ngành thực hiện việc công bố, nhập dữ liệu TTHC vào Cơ sở dữ liệu quốc gia về TTHC để đảm bảo yêu cầu về tính kịp thời, đầy đủ, chính xác và thống nhất của các TTHC được công bố và nhập dữ liệu giữa các Bộ, ngành Trung ương với các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Ngoài ra, Bộ cũng đã có báo cáo Thủ tướng Chính phủ về tình hình, kết quả thực hiện Quyết định số 08/QĐ-TTg (trong đó có nội dung thực hiện chuẩn hóa, công bố chuẩn hóa, công khai TTHC) và đề xuất Thủ tướng tiếp tục chỉ đạo các Bộ, ngành thực hiện nghiêm túc việc công bố TTHC và cập nhật vào Cơ sở dữ liệu quốc gia về TTHC (Báo cáo số 331/BC-BTP ngày 28/11/2016).

2. Đề nghị Bộ Tư pháp thường xuyên tổ chức các lớp tập huấn, bồi dưỡng nâng cao nghiệp vụ trong lĩnh vực Kiểm soát thủ tục hành chính cho đội ngũ công chức, viên chức và cán bộ làm đầu mối thực hiện nhiệm vụ kiểm soát thủ tục hành chính.

Trả lời:
Công tác tập huấn bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm soát thủ tục hành chính được Bộ Tư pháp thường xuyên quan tâm, thực hiện và coi là một giải pháp quan trọng nhằm nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ những người làm công tác kiểm soát thủ tục hành chính. Theo đó, hàng năm, Bộ Tư pháp đều tổ chức các lớp tập huấn nghiệp vụ kiểm soát thủ tục hành chính. Bên cạnh đó, để hướng dẫn nghiệp vụ cho các cán bộ, công chức của các Bộ, ngành địa phương, Cục Kiểm soát thủ tục hành chính – Bộ Tư pháp đã biên soạn Sổ tay hướng dẫn nghiệp vụ kiểm soát thủ tục hành chính gửi các Bộ, ngành, địa phương để làm tài liệu tham khảo trong quá trình thực hiện nhiệm vụ. Ngoài ra, các vướng mắc liên quan đến công tác kiểm soát TTHC tại địa phương đã được công chức chuyên quản kịp thời hướng dẫn và giải đáp thông qua văn bản, điện thoại trực tiếp hoặc qua thư điện tử.
IV. LĨNH VỰC BỔ TRỢ TƯ PHÁP

1. Đề nghị Bộ Tư pháp tham mưu ban hành quy định ràng buộc trách nhiệm của giám định viên tư pháp trong việc tham gia vào các vụ việc khi được cơ quan tiến hành tố tụng trưng cầu giám định.

Trả lời:
Luật giám định tư pháp năm 2012 đã có quy định tương đối đầy đủ về trách nhiệm của giám định viên tư pháp khi được trưng cầu, yêu cầu giám định, cụ thể là: tại Khoản 1 Điều 11 về quyền và nghĩa vụ của giám định viên tư pháp khi được bổ nhiệm quy định “thực hiện giám định theo trưng cầu, yêu cầu của người trưng cầu, yêu cầu giám định hoặc theo sự phân công của cơ quan, tổ chức được trưng cầu, yêu cầu” và tại Khoản 2 của Điều này cũng quy định cụ thể những trường hợp được và phải từ chối giám định “nội dung cần giám định vượt quá khả năng chuyên môn; đối tượng giám định, các tài liệu có liên quan được cung cấp không đủ hoặc không có giá trị kết luận giám định; thời gian không đủ để thực hiện giám định hoặc có lý do chính đáng khác…”. Ngoài ra, tại Điều 6 của Luật giám định tư pháp có quy định các hành vi bị nghiêm cấm trong hoạt động giám định tư pháp, trong đó có hành vi từ chối đưa ra kết luận giám định mà không có lý do chính đáng, cố ý kéo dài thời gian thực hiện giám định… đối với người làm giám định và nếu người giám định vi phạm các điều cấm đó thì tùy theo mức độ có thể bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị xử lý hình sự. 
Tuy nhiên, trên thực tế có thể có tình trạng một số trường hợp người được trưng cầu giám định tìm cách từ chối tiếp nhận giám định vì chuyên môn không đủ đáp ứng hoặc cũng có thể do tâm lý e ngại liên quan đến tố tụng hoặc cũng có thể do trách nhiệm thì lớn mà chế độ bồi dưỡng, chi phí giám định không được các cơ quan trưng cầu chi trả kịp thời, đầy đủ hoặc thiếu sự hợp tác hiệu quả từ phía các cơ quan trưng cầu giám định. Đây là thực trạng đã và đang được Bộ Tư pháp và một số cơ quan có liên quan quan tâm, xác định rõ nguyên nhân và đề xuất giải pháp khắc phục tại các Phiên họp của Ban chỉ đạo thực hiện Đề án 258 về Đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động giám định tư pháp ở cấp Trung ương.
V. LĨNH VỰC PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT

1. Đề nghị thường xuyên mở lớp tập huấn, nâng cao nghiệp vụ tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật cho đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên các cấp; biên tập tài liệu, nội dung PBGDPL theo các chương trình, kế hoạch PBGDPL để cung cấp kịp thời cho Hội đồng phối hợp PBGDPL tỉnh để phục vụ cho công tác PBGDPL.

Trả lời:
Chương III Luật PBGDPL quy định cụ thể trách nhiệm PBGDPL của các cơ quan, tổ chức, trong đó, Ủy ban nhân dân các cấp có trách nhiệm “tập huấn, bồi dưỡng, quản lý đội ngũ báo cáo viên pháp luật, tuyên truyền viên pháp luật; thực hiện chuẩn hóa đội ngũ giáo viên dạy môn giáo dục công dân, giáo viên, giảng viên dạy pháp luật theo quy định của pháp luật”. Bộ Tư pháp có trách nhiệm giúp Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về PBGDPL; chỉ đạo, hướng dẫn, theo dõi, đôn đốc các Bộ, ngành, địa phương trong cả nước về công tác này.
Thời gian qua, Bộ Tư pháp đã quan tâm tổ chức nhiều hoạt động tập huấn, bồi dưỡng kiến thức pháp luật, kỹ năng PBGDPL cho đội ngũ làm công tác PBGDPL (báo cáo viên pháp luật Trung ương, cán bộ pháp chế các Bộ, ngành, báo cáo viên pháp luật cấp tỉnh, giảng viên dạy môn pháp luật, giáo viên dạy môn giáo dục công dân, cán bộ quản lý giáo dục). Đây được coi là một nhiệm vụ quan trọng, có tính chất hỗ trợ nhằm nâng cao năng lực cho đội ngũ làm công tác PBGDPL để đội ngũ này triển khai tập huấn, bồi dưỡng trong ngành, lĩnh vực, địa phương. Đồng thời, thực hiện Kế hoạch công tác PBGDPL và Kế hoạch triển khai các Đề án PBGDPL do Bộ Tư pháp chủ trì triển khai, để bảo đảm chất lượng và định hướng phổ biến, hàng năm, Bộ Tư pháp đã tổ chức biên soạn và phát hành miễn phí cho các Bộ, ngành, địa phương nhiều tài liệu tuyên truyền, PBGDPL dưới các hình thức như: Đề cương giới thiệu các luật, pháp lệnh mới, đặc san tuyên truyền pháp luật, sách pháp luật, sổ tay pháp luật, tình huống pháp luật, hỏi đáp pháp luật, câu chuyện pháp luật dưới dạng video clip..., đồng thời được đăng tải trên Trang thông tin điện tử PBGDPL thuộc Cổng thông tin điện tử Bộ Tư pháp (www.moj.gov.vn/pbgdpl/Pages/Default.aspx) để phục vụ nhu cầu PBGDPL, tìm hiểu pháp luật của cán bộ, nhân dân.
Trong thời gian tới, Bộ Tư pháp sẽ nghiên cứu, đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác tập huấn, bồi dưỡng kiến thức pháp luật, chú trọng bồi dưỡng kỹ năng PBGDPL, nhất là cho các đối tượng đặc thù; tăng cường biên soạn, cung cấp tài liệu PBGDPL; tăng cường trao đổi kinh nghiệm, hướng dẫn, tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc từ thực tiễn triển khai công tác PBGDPL.
 

C. KIẾN NGHỊ CỦA UBND TỈNH LÂM ĐỒNG
I. LĨNH VỰC KIỂM SOÁT THỦ TỤC HÀNH CHÍNH

1. Đề nghị Bộ Tư pháp tiếp tục đẩy nhanh tiến độ và thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ công bố, chuẩn hóa các Bộ TTHC góp phần hoàn thiện Cơ sở Dữ liệu quốc gia về TTHC, làm cơ sở tổ chức thực hiện thống nhất và đồng bộ các nhiệm vụ cải cách thủ tục hành chính với hiện đại hóa, ứng dụng công nghệ thông tin với thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông và áp dụng hệ thống quản lý chất lượng ISO trong tiếp nhận hồ sơ và giải quyết thủ tục hành chính tại các cơ quan hành chính nhà nước.

Trả lời:
Trong quá trình triển khai Quyết định 08/QĐ-TTg ngày 06/01/2015 của Thủ tướng Chính phủ về việc chuẩn hóa bộ TTHC, Cục Kiểm soát thủ tục hành chính - Bộ Tư pháp đã thường xuyên đôn đốc Bộ, ngành, địa phương trong việc chuẩn hóa, công bố TTHC. Tính đến nay, các Bộ, ngành, địa phương đã thực hiện việc chuẩn hóa, ban hành các Quyết định phê duyệt danh mục TTHC được chuẩn hóa và thực hiện công bố, niêm yết công khai TTHC tại nơi giải quyết. Đối với Bộ, ngành, số lượng mục TTHC đã thực hiện chuẩn hóa so với tổng số TTHC thuộc phạm vi Bộ, ngành, cơ quan cần thực hiện chuẩn hóa là 5.907/6.360 thủ tục (đạt 92,8%); số lượng TTHC được công bố sau khi chuẩn hóa là 5.770 thủ tục; số TTHC được công khai trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về TTHC sau khi chuẩn hóa, công bố là 5.268 thủ tục (đạt 91,2%). 
Ngay khi nhận được quyết định công bố chuẩn hóa TTHC của các Bộ, cơ quan, Cục Kiểm soát TTHC - Bộ Tư pháp (theo Nghị định số 150/2016/NĐ-CP ngày 11/11/2016 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Văn phòng Chính phủ thì từ ngày 15/12/2016 chức năng quản lý nhà nước về kiểm soát thủ tục hành chính được chuyển từ Bộ Tư pháp sang Văn phòng Chính phủ) đều đã kịp thời gửi bản mềm các quyết định công bố này đến hòm thư điện tử của các Sở Tư pháp hoặc của cán bộ, chuyên viên Phòng Kiểm soát TTHC thuộc Sở Tư pháp để phối hợp theo dõi, đôn đốc Sở ngành chuyên môn công bố chuẩn hóa TTHC thực hiện tại địa phương. Đối với số ít TTHC chưa được chuẩn hóa, công bố, công khai đang được Bộ, cơ quan có liên quan tiếp tục hoàn chỉnh.

2. Đề nghị Bộ Tư pháp cải cách công tác rà soát, đánh giá TTHC kiến nghị, đề xuất sửa đổi, bổ sung các quy định nhằm đơn giản hóa và giảm bớt các thủ tục theo hướng thực hiện độc lập và khách quan trên cơ sở khảo sát, đánh giá chính xác thực tiễn.

Việc rà soát, đánh giá thủ tục hành chính đã được quy định tại Chương V Nghị định 63/2010/NĐ-CP, Điều 1 Nghị định 48/2013/NĐ-CP của Chính phủ, Thông tư số 07/2014/TT-BTP của Bộ trưởng Bộ Tư pháp, theo đó, trên cơ sở kết quả rà soát, đánh giá thủ tục hành chính của Bộ, cơ quan ngang Bộ và đề nghị của UBND tỉnh, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ hoặc bãi bỏ theo thẩm quyền hoặc tổng hợp phương án sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ hoặc bãi bỏ thủ tục hành chính, các quy định có liên quan thuộc phạm vi thẩm quyền của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, gửi Bộ Tư pháp xem xét, đánh giá trước khi trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ. Như vậy, theo quy trình này, các kiến nghị phương án đơn giản hóa thủ tục hành chính của địa phương gửi các Bộ, ngành (thuộc phạm vi quản lý của các Bộ, ngành) đã được các Bộ, ngành nghiên cứu, tổng hợp xây dựng, hoàn thiện phương án đơn giản hóa thủ tục hành chính để phê duyệt theo thẩm quyền hoặc trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Trong đó, vai trò của Bộ Tư pháp là cho ý kiến về phương án đơn giản hóa các Bộ, ngành trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ. 
Bên cạnh việc cho ý kiến về phương án đơn giản hóa của các Bộ, ngành, việc nghiên cứu, đề xuất với Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ các sáng kiến cải cách thủ tục hành chính và các quy định có liên quan đã được Bộ Tư pháp thực hiện có kết quả trong thời gian qua bằng việc đã trình Chính phủ ban hành Nghị quyết số 43/NQ-CP của Chính phủ về một số nhiệm vụ trọng tâm cải cách TTHC trong hình thành và thực hiện dự án đầu tư có sử dụng đất để cải thiện môi trường kinh doanh; trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án đơn giản hóa TTHC, giấy tờ công dân và các cơ sở dữ liệu liên quan đến quản lý dân cư; Đề án thực hiện liên thông các TTHC: đăng ký khai sinh, đăng ký thường trú và cấp thẻ bảo hiểm y tế cho trẻ em dưới 6 tuổi; Quyết định số 45/2016/QĐ-TTg ngày 19/10/2016 về tiếp nhận hồ sơ, trả kết quả giải quyết TTHC qua dịch vụ bưu chính công ích… Đây là kết quả của quá trình nghiên cứu độc lập của Bộ Tư pháp để đề xuất với Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ các sáng kiến cải cách TTHC để tiếp tục cắt giảm, đơn giản TTHC, tạo thuận lợi cho hoạt động sản xuất kinh doanh và đời sống người dân.
II. LĨNH VỰC TRỢ GIÚP PHÁP LÝ

1. Đề nghị Bộ Tư pháp quan tâm, tháo gỡ vướng mắc, hỗ trợ kinh phí để đảm bảo nguồn chi trả chi phí thực hiện vụ việc trợ giúp pháp lý của người thực hiện trợ giúp pháp lý; đảm bảo chế độ của Trợ giúp viên pháp lý tương đương như các chức danh tư pháp khác.

Trả lời:
- Về hỗ trợ kinh phí chi trả chi phí thực hiện vụ việc TGPL:
Theo quy định tại khoản 4 Điều 47 Luật TGPL năm 2006, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm bảo đảm biên chế, kinh phí, cơ sở vật chất, trang thiết bị làm việc cho Trung tâm TGPL nhà nước. Đồng thời, Điều 9 Luật Ngân sách nhà nước năm 2015 quy định nguyên tắc phân cấp quản lý nguồn thu, nhiệm vụ chi và quan hệ giữa các cấp ngân sách, theo đó ngân sách mỗi cấp chính quyền được phân cấp nguồn thu và nhiệm vụ chi cụ thể. Do vậy, đề nghị Ủy ban nhân dân các tỉnh cân đối nhiệm vụ chi tại địa phương để bảo đảm kinh phí cho công tác TGPL, nhất là hoạt động thực hiện vụ việc TGPL để kịp thời bảo đảm quyền và lợi ích của người được TGPL theo đúng pháp luật TGPL và pháp luật về ngân sách nhà nước.
- Về chế độ của Trợ giúp viên pháp lý:
Trợ giúp viên pháp lý là viên chức của đơn vị sự nghiệp công lập không có thu, ngân sách nhà nước bảo đảm toàn bộ kinh phí, do đó chế độ của Trợ giúp viên pháp lý được thực hiện theo chính sách chung.
Để nâng cao chế độ cho Trợ giúp viên pháp lý, ngày 17/9/2015 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 80/2015/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 14/2013/NĐ-CP ngày 05/02/2013 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 07/2007/NĐ-CP ngày 12/01/2007 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật TGPL, theo đó, mức bồi dưỡng vụ việc khi Trợ giúp viên pháp lý thực hiện TGPL bằng hình thức tham gia tố tụng là 400.000 đồng/ngày làm việc, đại diện ngoài tố tụng là 160.000 đồng/ngày làm việc.

2. Đề nghị Bộ Tư pháp tăng cường công tác tuyên truyền Luật trợ giúp pháp lý và chủ trương chính sách của Đảng và pháp luật của nhà nước đến các đối tượng được trợ giúp pháp lý nói riêng và nhân dân nói chung.

Trả lời:
Xác định công tác truyền thông về TGPL là một nhiệm vụ quan trọng nhằm quảng bá rộng rãi công tác TGPL trên các phương tiện thông tin đại chúng đến với các đối tượng được TGPL nói riêng, người dân, các cơ quan, tổ chức nói chung, trong năm 2016, Bộ Tư pháp (Cục TGPL) đã thực hiện các hoạt động như: xây dựng và phát sóng 02 phóng sự về công tác TGPL, chính sách TGPL của Đảng, Nhà nước trên Đài Truyền hình Việt Nam (VTV2); xây dựng các nội dung giới thiệu quy định pháp luật về TGPL phát sóng trên chuyên mục “Phổ biến giáo dục pháp luật” của VOV 2 Đài Tiếng nói Việt Nam; phối hợp với Báo Pháp luật Việt Nam xây dựng chuyên mục về TGPL…; phối hợp truyền thông về hoạt động TGPL trên mạng xã hội; xây dựng và phát hành tờ rơi giới thiệu về TGPL và cung cấp địa chỉ các Trung tâm TGPL trong toàn quốc để phát miễn phí đến người dân…
Đặc biệt, để truyền thông về chính sách TGPL cũng như những điểm sửa đổi, bổ sung của dự thảo Luật TGPL (sửa đổi), Bộ Tư pháp (Cục TGPL) đã tích cực phối hợp với các cơ quan truyền thông thực hiện dưới nhiều hình thức với 02 phóng sự về những điểm mới của Luật TGPL (sửa đổi); 01 Tọa đàm trên Truyền hình Quốc hội Việt Nam và nhiều bài viết trên các báo (báo Pháp luật Việt Nam, báo Người đại biểu nhân dân...) với nhiều nội dung truyền tải đến các đại biểu Quốc hội, các cơ quan ban ngành, người dân để họ hiểu rơ hơn về công tác TGPL nói chung và dự án Luật TGPL sửa đổi nói riêng.
Trong năm 2017, Bộ Tư pháp (Cục TGPL) sẽ tăng cường hơn nữa công tác truyền thông với nhiều hình thức đa dạng và phong phú, đặc biệt là các nội dung của  Luật TGPL (sửa đổi) sau khi được Quốc hội thông qua (dự kiến tại kỳ họp thứ 3) để người dân biết nhiều hơn đến công tác TGPL.
Bên cạnh đó, ngày 08/8/2016, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 32/2016/QĐ-TTg ban hành chính sách trợ giúp pháp lý cho người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số tại các huyện nghèo, xã nghèo, thôn, bản đặc biệt khó khăn giai đoạn 2016 - 2020 và hỗ trợ vụ việc tham gia tố tụng có tính chất phức tạp hoặc điển hình, trong đó truyền thông là một trong các hoạt động hỗ trợ tại các địa phương có huyện nghèo, xã nghèo, thôn, bản đặc biệt khó khăn thông qua các hoạt động như: thiết lập đường dây nóng về TGPL; xây dựng, phát chuyên trang, chuyên mục về TGPL bằng tiếng Việt, tiếng dân tộc trên Đài truyền hình xã; tổ chức các đợt truyền thông về TGPL ở cơ sở. Trong năm 2017, bên cạnh hoạt động chuyên môn nghiệp vụ, công tác truyền thông về TGPL tại các địa phương cũng sẽ được triển khai đồng bộ, nhất là đối với các địa phương có huyện nghèo, xã nghèo, thôn, bản đặc biệt khó khăn.
 

D. KIẾN NGHỊ CỦA UBND THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
I. LĨNH VỰC XÂY DỰNG, THẨM ĐỊNH VĂN BẢN QUY PHẠM  PHÁP LUẬT VÀ CÔNG TÁC PHÁP CHẾ

1. Đề nghị Bộ Tư pháp kiến nghị Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo Bộ Nội vụ phối hợp với các Bộ, ngành sửa đổi các Thông tư liên tịch hướng dẫn về chức năng, nhiệm vụ và tổ chức của các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh cho phù hợp với Nghị định số 55/2011/NĐ-CP ngày 04/7/2011 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của tổ chức pháp chế.

Trả lời:
Đến nay, Bộ Nội vụ đã ban hành hoặc liên tịch với các Bộ ban hành 14 thông tư, thông tư liên tịch quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của các Sở thuộc UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, trong đó, không quy định Phòng Pháp chế trong cơ cấu tổ chức của các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh. Điều này, đã gây ra khó khăn, lúng túng trong việc áp dụng, củng cố, kiện toàn tổ chức các Phòng Pháp chế tại các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương theo quy định của Nghị định số 55/2011/NĐ-CP.
Trước tình hình nêu trên, Bộ Tư pháp đã kịp thời có các văn bản gửi các địa phương về việc áp dụng thống nhất pháp luật đối với việc kiện toàn tổ chức Pháp chế tại các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh (Công văn số 526/BTP-VĐCXDPL ngày 14/02/2015; Công văn số 2287/BTP-VĐCXDPL ngày 10/8/2015...). Bên cạnh đó, với kiến nghị của Bộ Tư pháp, ngày 08/4/2015, Phó Thủ tướng Chính phủ (nay là Thủ tướng Chính phủ) Nguyễn Xuân Phúc đã chủ trì cuộc họp giữa Bộ Tư pháp, Bộ Nội vụ, Văn phòng Chính phủ với các Bộ, ngành có liên quan về tình hình tổ chức và hoạt động của các Phòng Pháp chế tại cơ quan chuyên môn thuộc UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Trên cơ sở kết quả cuộc họp, Văn phòng Chính phủ có Công văn số 5592/VPCP-TCCV ngày 17/7/2015 thông báo ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ về tổ chức và hoạt động của Phòng Pháp chế tại cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh, trong đó, Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo UBND cấp tỉnh bố trí hợp lý biên chế công chức làm công tác pháp chế tại các Sở trong tổng biên chế được giao, bảo đảm số lượng và chất lượng, phù hợp với yêu cầu công tác của từng Sở và địa phương.
Tiếp theo, ngày 09/9/2016, Bộ trưởng Bộ Tư pháp và Bộ trưởng Bộ Nội vụ đã có buổi làm việc về công tác của hai bộ, trong đó có công tác pháp chế. Theo đó, tại buổi làm việc hai Bộ đã trao đổi, thảo luận để có giải pháp nhằm tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong công tác này.
Bộ Tư pháp đã cùng với với các Bộ, ngành đã tham mưu trình Ban Cán sự Đảng Chính phủ ban hành Kế hoạch số 1141-KH/BCSĐCP ngày 11/11/2016 về việc thực hiện Kết luận số 01-KL/TW của Bộ Chính trị về việc tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 48-NQ/TW của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 (giai đoạn 2016 - 2020). Theo đó, tại mục 3a phần III Kế hoạch nêu rõ Bộ Nội vụ có trách nhiệm chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương: “tiếp tục rà soát kiện toàn cơ quan, tổ chức làm công tác xây dựng pháp luật, pháp chế, thi hành pháp luật ở bộ, ban, ngành, chính quyền địa phương các cấp. Theo đó, tiếp tục duy trì tổ chức pháp chế ở các Bộ, ngành, địa phương; đồng thời căn cứ tình hình cụ thể của mỗi Bộ, ngành, địa phương để sắp xếp, bố trí, ổn định đội ngũ cán bộ bảo đảm đủ về số lượng, có trình độ, chất lượng phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ công việc”.
Với tinh thần đó, Bộ Tư pháp đề nghị các Bộ, ngành, địa phương triển khai nghiêm túc Kế hoạch số 1141-KH/BCSĐCP nhằm tiếp tục duy trì tổ chức pháp chế tại các địa phương theo quy định của Nghị định số 55/2011/NĐ-CP. Bộ Tư pháp sẽ tiếp tục nghiên cứu, kiến nghị với Chính phủ để có giải pháp nhằm tháo gỡ khó khăn, vướng mắc đối với công tác này.
II. LĨNH VỰC QUẢN LÝ XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH VÀ THEO DÕI THI HÀNH PHÁP LUẬT

1. Đề nghị Bộ Tư pháp sớm tham mưu Chính phủ ban hành đầy đủ các Nghị định hướng dẫn thi hành Luật Xử lý vi phạm hành chính như Nghị định về cơ sở dữ liệu xử lý vi phạm hành chính, xây dựng phần mềm dùng chung, phần mềm thống kê về công tác xử lý vi phạm hành chính, xây dựng Cơ sở Dữ liệu quốc gia về xử lý vi phạm hành chính để triển khai thực hiện thống nhất trong toàn quốc.

Trả lời:
Thực hiện Quyết định số 1473/QĐ-TTg ngày 05/10/2012 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Kế hoạch triển khai và Danh mục nghị định quy định chi tiết thi hành Luật Xử lý vi phạm hành chính, Bộ Tư pháp đã khẩn trương chủ trì, phối hợp với các cơ quan hữu quan nghiên cứu, soạn thảo Nghị định quy định Cơ sở dữ liệu quốc gia về xử lý vi phạm hành chính và trình Chính phủ vào tháng 12/2015. Ngày 30/3/2016, Chính Phủ đã ký ban hành Nghị định số 20/2016/NĐ-CP quy định Cơ sở dữ liệu quốc gia về xử lý vi phạm hành chính, theo đó, Nghị định đã có hiệu lực thi hành từ ngày 15/5/2016.
Bên cạnh đó, Bộ Tư pháp cũng đã nghiên cứu, soạn thảo Đề án xây dựng Cơ sở dữ liệu quốc gia về xử lý vi phạm hành chính và đã trình Thủ tướng Chính phủ ngày 31/10/2016. Theo lộ trình được xác định trong Đề án, nếu được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt thì trong giai đoạn 2017 - 2019, việc xây dựng phần mềm quản lý thông tin về xử lý vi phạm hành chính sẽ được triển khai tại Bộ Tư pháp, 08 Bộ, cơ quan ngang Bộ và 31 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương để sớm triển khai thực hiện thống nhất trong toàn quốc, đáp ứng yêu cầu thực tiễn trong quản lý nhà nước cũng như quản lý xã hội.

2. Đề nghị Bộ Tư pháp quan tâm hướng dẫn kịp thời những khó khăn vướng mắc của các địa phương, trong đó có thành phố Hồ Chí Minh trong việc thi hành Luật Xử lý vi phạm hành chính và các văn bản hướng dẫn thi hành dù được thể hiện ở các báo cáo, văn bản xin ý kiến riêng hay phản ánh trong các hội nghị, hội thảo để các địa phương áp dụng một cách thống nhất.

Trả lời:
Trong thời gian vừa qua, đối với những văn bản xin ý kiến riêng của các địa phương nói chung và của thành phố Hồ Chí Minh nói riêng đều được Bộ Tư pháp (Cục QLXLVPHC&TDTHPL) nghiên cứu, trả lời cụ thể bằng văn bản để địa phương kịp thời có hướng giải quyết. Đối với những khó khăn, vướng mắc phản ánh qua các hội nghị, hội thảo, Bộ Tư pháp (Cục QLXLVPHC&TDTHPL) đã có giải đáp, trả lời trực tiếp đối với những vấn đề liên quan tới áp dụng pháp luật của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Đối với những khó khăn, vướng mắc xuất phát từ chính các quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính và các điều kiện bảo đảm cho thi hành pháp luật thì Bộ Tư pháp đã, đang và sẽ tiếp tục tổng hợp, nghiên cứu đề xuất các giải pháp, kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xem xét sửa đổi, bổ sung các văn bản cho phù hợp với thực tiễn thi hành.
III. LĨNH VỰC BỔ TRỢ TƯ PHÁP

1. Về kiến nghị của UBND thành phố Hồ Chí Minh tại Báo cáo số 653/BC-STP ngày 16/02/2016 đề nghị Bộ Tư pháp tiếp tục quan tâm, nghiên cứu, tổ chức đào tạo về nghiệp vụ quản lý, thanh lý tài sản; tập huấn, bồi dưỡng cho Quản tài viên; ban hành văn bản hướng dẫn thực hiện Nghị định số 22/2015/NĐ-CP; xây dựng cơ chế phối hợp trong hoạt động quản lý, thanh lý tài sản.

Trả lời:
- Về việc tổ chức đào tạo về nghiệp vụ quản lý, thanh lý tài sản trước khi cấp chứng chỉ hành nghề Quản tài viên:
Theo quy định tại Điều 12 của Luật phá sản thì luật sư, kiểm toán viên và người có trình độ cử nhân luật, kinh tế, tài chính, ngân hàng và có thời gian công tác từ 05 năm trở lên trong lĩnh vực được đào tạo thì được cấp Chứng chỉ hành nghề Quản tài viên. Luật phá sản không có quy định về đào tạo nghề quản lý, thanh lý tài sản trước khi được cấp Chứng chỉ hành nghề Quản tài viên. Do đó, không có cơ sở pháp lý để thực hiện việc đào tạo nghề bắt buộc trước khi cấp Chứng chỉ hành nghề Quản tài viên. Tuy nhiên, Bộ Tư pháp sẽ nghiên cứu đề xuất của Sở Tư pháp thành phố Hồ Chí Minh để có những giải pháp phù hợp trong việc đào tạo, bồi dưỡng nâng cao chất lượng của đội ngũ Quản tài viên.
- Về việc tập huấn, bồi dưỡng kiến thức pháp luật về quản lý, thanh lý tài sản theo định kỳ hàng năm:
Thực hiện Kế hoạch triển khai Nghị định số 22/2015/NĐ-CP, trong năm 2015 và 2016, Bộ Tư pháp đã chủ trì, phối hợp với Tòa án nhân dân tối cao tổ chức các lớp tập huấn, bồi dưỡng kiến thức pháp luật và kỹ năng hành nghề quản lý, thanh lý tài sản cho các Quản tài viên mới được cấp Chứng chỉ hành nghề, đồng thời đã tổ chức các lớp bồi dưỡng kỹ năng hành nghề chuyên sâu về phục hồi doanh nghiệp phá sản cho đội ngũ Quản tài viên.
Tại các lớp tập huấn, bồi dưỡng nêu trên, các chuyên gia là Quản tài viên của Hiệp hội Quản tài viên quốc tế, các chuyên gia Việt Nam có kinh nghiệm trong việc giải quyết vụ việc phá sản đã chia sẻ, cung cấp các kiến thức pháp luật cơ bản và kỹ năng hành nghề cho đội ngũ Quản tài viên mới được hình thành ở Việt Nam.
Trong thời gian tới, Bộ Tư pháp sẽ tiếp tục phối hợp với các cơ quan, tổ chức có liên quan tổ chức các lớp tập huấn, bồi dưỡng cho đội ngũ Quản tài viên theo Kế hoạch đã được phê duyệt.
- Về việc sớm ban hành văn bản hướng dẫn thực hiện Nghị định số 22/2015/NĐ-CP của Chính phủ:
Qua thực tiễn triển khai Nghị định, các vấn đề được quy định trong Nghị định số 22/2015/NĐ-CP đã cụ thể, rõ ràng, thực hiện được ngay trên thực tế mà không cần văn bản hướng dẫn. Trong thời gian qua, Bộ Tư pháp cũng chưa nhận được phản ánh, kiến nghị của các địa phương về các khó khăn, vướng mắc mà cần phải ban hành văn bản quy phạm pháp luật để hướng dẫn Nghị định số 22/2015/NĐ-CP.
Bên cạnh đó, hiện nay Bộ Tài chính cũng đã ban hành văn bản quy định về việc thu, nộp, quản lý và sử dụng lệ phí cấp, cấp lại chứng chỉ hành nghề Quản tài viên; lệ phí đăng ký hành nghề quản lý, thanh lý tài sản để triển khai Luật phí và lệ phí. Do đó, trong thời điểm hiện tại, chưa cần thiết phải ban hành Thông tư hướng dẫn thi hành quy định của Nghị định số 22/2015/NĐ-CP.
- Về việc xây dựng cơ chế phối hợp giữa Tòa án, Viện Kiểm sát, cơ quan thi hành án dân sự, ngân hàng, Quản tài viên và doanh nghiệp hành nghề quản lý, thanh lý tài sản trong hoạt động quản lý, thanh lý tài sản:
Ngày 08/10/2015, Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành Thông tư số 01/2015/TT-CA quy định về quy chế làm việc của các tổ thẩm phán trong quá trình giải quyết vụ việc phá sản, trong đó có quy định cơ chế phối hợp giữa Tổ Thẩm phán với Viện Kiểm sát nhân dân, kiểm sát viên, cơ quan thi hành án dân sự, chấp hành viên, quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản. Ngoài ra, ngày 26/8/2016 Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành Nghị quyết số 03/2016/NQ-HĐTP hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật phá sản.

2. Kiến nghị Bộ Tư pháp tiếp tục quan tâm, có hướng dẫn hoặc nghiên cứu đối với Công văn số 1696/STP-BTTP ngày 22/3/2016 về việc cung cấp số liệu kết quả hoạt động của Thừa phát lại tại thành phố Hồ Chí Minh.
Đề nghị Bộ Tư pháp chỉ đạo, hướng dẫn và có các biện pháp kịp thời để các Cơ quan Thi hành án dân sự, Tòa án tiếp tục chuyển giao văn bản tống đạt cho các Thừa phát lại thực hiện.

Trả lời:
- Về việc chuyển giao văn bản cho các Thừa phát lại tống đạt:
Kể từ cuối năm 2015 và trong quá trình thực hiện Nghị quyết số 107/2015/QH13, các Văn phòng Thừa phát lại gặp nhiều khó khăn trong hoạt động tống đạt giấy tờ. Nguyên nhân chủ yếu là do nguồn kinh phí cấp cho hoạt động này của các cơ quan Tòa án và Thi hành án dân sự đã hết mà chưa được ngân sách cấp hỗ trợ, do đó cơ quan Thi hành án và Tòa án nhân dân không thực hiện việc chuyển giao văn bản cho Thừa phát lại tống đạt hoặc chuyển giao cầm chừng hoặc có chuyển giao nhưng chưa thanh toán kinh phí.
Để giải quyết vấn đề này, Bộ Tư pháp đã phối hợp với các cơ quan, tổ chức có liên quan báo cáo Thủ tướng Chính phủ kiến nghị bổ sung kinh phí cho Cơ quan thi hành án và Tòa án để thuê Thừa phát lại tiếp tục thực hiện việc tống đạt văn bản.
Ngày 17/6/2016, Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định số 1074/QĐ-TTg đồng ý bổ sung kinh phí với số tiền 52.725.000.000 (năm mươi hai tỷ bảy trăm hai mươi lăm triệu đồng) từ nguồn chi quản lý hành chính thuộc ngân sách trung ương năm 2016. Tòa án nhân dân tối cao và Bộ Tư pháp đã triển khai việc phân bổ kinh phí cấp cho cơ quan Thi hành án dân sự và Tòa án của 13 địa phương thực hiện chế định Thừa phát lại để thuê Thừa phát lại tống đạt. Từ cuối tháng 8/2016, hoạt động tống đạt văn bản của Thừa phát lại đã tiếp tục được thực hiện và đạt kết quả cao.
Trong thời gian tới, Bộ Tư pháp sẽ nghiên cứu quy định cụ thể nội dung này theo hướng: ngân sách nhà nước cấp riêng kinh phí cho Tòa án, cơ quan Thi hành án dân sự thuê thừa phát lại tống đạt văn bản, giảm tải kinh phí cấp chi thường xuyên cho các cơ quan này do đã được giảm tải về công việc. Đối với những khoản đương sự chịu thì cũng cần có cơ chế để thu hồi được khoản tiền này nhanh nhất, không để tình trạng nợ đọng kéo dài.
- Về việc sửa đổi, bổ sung các quy định hiện hành về thừa phát lại:
Bộ Tư pháp đã ban hành Quyết định số 1233/QĐ-BTP ngày 07/6/2016 về việc thành lập Ban soạn thảo, Tổ biên tập Nghị định sửa đổi, bổ sung Nghị định số 61/2009/NĐ-CP ngày 24/7/2009 về tổ chức và hoạt động của Thừa phát lại thực hiện thí điểm tại thành phố Hồ Chí Minh; Nghị định số 135/2013/NĐ-CP ngày 18/10/2013 sửa đổi, bổ sung tên gọi và một số điều của Nghị định số 61/2009/NĐ-CP ngày 24/7/2009; tổ chức phiên họp Ban soạn thảo để cho ý kiến về định hướng và những nội dung cơ bản của dự thảo Nghị định; tổ chức các tọa đàm lấy ý kiến về dự thảo Nghị định. Đến nay, Bộ Tư pháp đã gửi dự thảo Nghị định để lấy ý kiến đóng góp của các Bộ, ngành, cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan (Công văn số 4107/BTP-BTTP ngày 18/11/2016) đồng thời đăng tải trên Cổng thông tin điện tử của Chính phủ và Bộ Tư pháp.
Trong khi chưa ban hành Nghị định về tổ chức và hoạt động Thừa phát lại để thực hiện trên toàn quốc theo Nghị quyết số 107/2015/QH13, việc tổ chức và hoạt động của Thừa phát lại được thực hiện theo quy định của Nghị định số 61/2009/NĐ-CP; Nghị định số 135/2013/NĐ-CP và các văn bản hướng dẫn hiện hành.
IV. LĨNH VỰC PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT

1. Đề nghị Bộ Tư pháp tổng hợp ý kiến của các Bộ, ngành, địa phương sau đợt sơ kết 03 năm thực hiện Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật và tổng kết thực hiện Quyết định số 409/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, từ đó tham mưu sửa đổi, bổ sung Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật phù hợp với thực tế của các địa phương.

Trả lời:
Thực hiện Kế hoạch công tác PBGDPL năm 2016, Bộ Tư pháp đã phối hợp với các Bộ, ngành, đoàn thể Trung ương và các địa phương tổ chức sơ kết 03 năm thực hiện Luật PBGDPL, tổng kết thực hiện Quyết định số 409/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ và xây dựng Báo cáo trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.
Kết quả sơ kết, tổng kết của các Bộ, ngành, địa phương cho thấy Luật PBGDPL được ban hành đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng định hướng triển khai thực hiện công tác PBGDPL trên phạm vi toàn quốc, đưa công tác này sang một bước phát triển mới, thực chất và hiệu quả hơn. Tuy nhiên, qua nắm bắt tình hình thực tiễn và tổng hợp thông tin từ báo cáo sơ kết, tổng kết cũng cho thấy, việc thực hiện Luật PBGDPL đã bộc lộ một số tồn tại, hạn chế. Bộ Tư pháp cũng đã tổng hợp đầy đủ vào Báo cáo sơ kết Luật để trình cấp có thẩm quyền. Trong thời gian tới, Bộ Tư pháp sẽ tiếp tục phối hợp với các Bộ, ngành, địa phương tiến hành nghiên cứu, rà soát, đánh giá để củng cố những luận cứ mang tính khoa học, thuyết phục, chuyên sâu làm cơ sở để đề xuất định hướng sửa đổi, bổ sung Luật PBGDPL phù hợp và đáp ứng yêu cầu phát triển của công tác PBGDPL nói riêng, của đất nước nói chung trong tình hình mới.
Trước mắt, kết quả sơ kết, tổng kết sẽ được Bộ Tư pháp nghiêm túc nghiên cứu, tiếp thu, cụ thể hóa trong quá trình tham mưu, trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Chương trình PBGDPL giai đoạn 2017-2021 trong năm 2017 với mong muốn tạo chuyển biến tích cực trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật.

2. Đề nghị Bộ Tư pháp sớm phối hợp với Bộ Tài chính để ban hành văn bản thay thế Thông tư liên tịch số 14/2014/TTLT-BTC-BTP quy định việc lập dự toán, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí ngân sách nhà nước bảo đảm cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật và chuẩn tiếp cận pháp luật của người dân tại cơ sở theo hướng quy định nội dung chi, mức chi rõ ràng, cụ thể hơn để việc vận dụng, thanh quyết toán được thuận lợi và phù hợp tình hình thực tiễn hiện.

Trả lời:
Sau gần 3 năm triển khai thực hiện, Thông tư liên tịch số 14/2014/TTLT ngày 27/01/2014 giữa Bộ Tài chính và Bộ Tư pháp quy định lập dự toán, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí ngân sách nhà nýớc bảo ðảm cho công tác PBGDPL ðã được các Bộ, ngành, địa phương tổ chức thực hiện đảm bảo đúng chế độ, định mức hiện hành, tạo điều kiện thuận lợi phục vụ việc triển khai các hoạt động PBGDPL. Thông tư liên tịch được ban hành đảm bảo tương quan thống nhất chung về nội dung chi, mức chi với các văn bản tài chính hiện hành về các lĩnh vực công việc có tính chất tương tự. Đến nay, cơ bản các văn bản tài chính này vẫn đang được triển khai ổn định, chưa có sự sửa đổi, bổ sung thay thế.
Để có cơ sở sửa đổi, bổ sung Thông tư liên tịch số 14/2014/TTLT-BTC-BTP nêu trên, đề nghị các Bộ, ngành, địa phương tổ chức đánh giá kết quả triển khai thực hiện Thông tư liên tịch, nêu rõ những vướng mắc, tồn tại, hạn chế, đề xuất, kiến nghị và gửi Bộ Tư pháp để tổng hợp, phối hợp đề xuất Bộ Tài chính ban hành Thông tư mới đảm bảo đúng chức năng, nhiệm vụ theo quy định.

3. Đề nghị Bộ Tư pháp bổ sung quy định về việc triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật là một trong những nội dung đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ của chính quyền và là tiêu chí xét thi đua, khen thưởng để nâng cao nhận thức, ý thức của các cơ quan, đơn vị, địa phương đối với công tác phổ biến, giáo dục pháp luật.

Trả lời:
Hàng năm, Bộ Tư pháp đều xây dựng tiêu chí thi đua chấm điểm Sở Tư pháp trong lĩnh vực phổ biến, giáo dục pháp luật. Trong các tiêu chí đó, có nội dung liên quan đến việc “triển khai công tác PBGDPL” như: Ban hành các chương trình, kế hoạch, chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra công tác PBGDPL hàng năm; Tổ chức triển khai Luật PBGDPL, các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật (trong đó có thực hiện Ngày pháp luật, kiện toàn Báo cáo viên, tập huấn Báo cáo viên, kinh phí cho công tác PBGDPL…). Năm 2016, các tiêu chí trong Bảng chấm điểm thi đua và xếp hạng Sở Tư pháp các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương được ban hành kèm theo Quyết định số 1326/QĐ-BTP ngày 20 tháng 6 năm 2016 của Bộ trưởng. Trong Bảng tiêu chí này có tiêu chí chấm điểm của Bộ Tư pháp về công tác PBGDPL, hòa giải ở cơ sở, tiếp cận pháp luật (15 điểm). Đây là một trong các tiêu chí cùng với các tiêu chí khác của Ngành là cơ sở để chấm điểm, xếp hạng và xét thi đua khen thưởng các Sở Tư pháp.
Hiện nay, Bộ Tư pháp đang nghiên cứu, xây dựng Thông tư ban hành Bộ tiêu chí đánh giá hiệu quả công tác phổ biến giáo dục pháp luật. Bộ tiêu chí được ban hành sẽ công cụ, là thước đo tính hiệu quả các dịch vụ công về PBGDPL do nhà nước cung cấp và công tác quản lý nhà nước về PBGDPL. Đồng thời, Bộ tiêu chí sẽ là cơ sở để đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ của chính quyền và là tiêu chí xét thi đua, khen thưởng của các cơ quan đơn vị, địa phương.

4. Hàng năm, đề nghị Bộ Tư pháp cần sớm ban hành kế hoạch trọng tâm phổ biến, giáo dục pháp luật, hướng dẫn triển khai nội dung, hình thức, tiến độ, kinh phí thực hiện để địa phương có căn cứ triển khai và dự trù kinh phí thực hiện.

Trả lời:
Để hoạt động PBGDPL được triển khai kịp thời, có hiệu quả trên phạm vi cả nước, hàng năm, Bộ Tư pháp đều khẩn trương xây dựng Kế hoạch công tác tư pháp nói chung và Kế hoạch công tác PBGDPL hàng năm nói riêng để ban hành nhằm đảm bảo cho các địa phương triển khai thực hiện sớm.
Tiếp thu kiến nghị, trong thời gian tới, Bộ Tư pháp sẽ tích cực hơn nữa trong việc hướng dẫn, đôn đốc các đơn vị có liên quan đẩy nhanh tiến độ xây dựng Kế hoạch công tác tư pháp nói chung và Kế hoạch trọng tâm công tác PBGDPL nói riêng. Đồng thời, đề nghị các Bộ, ngành, địa phương phát huy vai trò, trách nhiệm chính trong triển khai các hoạt động PBGDPL do Bộ, ngành mình thực hiện để kịp thời phục vụ công tác PBGDPL cho nhân dân một cách hiệu quả nhất.

5. Đề nghị Bộ Tư pháp ban hành Chương trình phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2016 - 2021 (Qua sơ kết 03 năm thực hiện Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật và tổng kết thực hiện Quyết định số 409/QĐ-TTg, một số cơ quan, đơn vị phản ánh một số chương trình, đề án, kế hoạch phổ biến, giáo dục pháp luật trùng lắp về nội dung, đối tượng... do đó, đề nghị Trung ương tổng kết, đánh giá, hợp nhất các đề án, chương trình, kế hoạch phổ biến, giáo dục pháp luật có trùng nội dung, đối tượng phổ biến).
Đề nghị Bộ Tư pháp rà soát, lồng ghép các Chương trình, Đề án, Kế hoạch phổ biến, giáo dục pháp luật, đảm bảo thiết thực, hiệu quả, tránh chồng chéo.

Trả lời:
Qua kết quả sơ kết 03 năm triển khai thực hiện Luật PBGDPL và tổng kết việc thực hiện Quyết định số 409/QÐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ban hành Chương trình hành động thực hiện Kết luận số 04-KL/TW, Bộ Tư pháp đã ghi nhận ý kiến phản ánh của một số địa phương về việc trùng lắp nội dung, đối tượng tại một số Ðề án về PBGDPL, gây khó khăn và lãng phí nguồn lực trong quá trình triển khai thực hiện.
Hiện tại, Bộ Tư pháp đang tiến hành nghiên cứu xây dựng Chương trình PBGDPL giai đoạn 2017- 2021 với mục tiêu kế thừa những kết quả tích cực đã đạt được, khắc phục những tồn tại, hạn chế của việc thực hiện trong thời gian qua (trong đó có cả việc thực hiện các Chương trình, Ðề án về PBGDPL), đảm bảo đề xuất các giải pháp của Chương trình giai đoạn mới sẽ tích cực góp phần đổi mới công tác PBGDPL, gắn kết và phục vụ nhiệm vụ chính trị của Bộ, ngành, địa phương, có trọng tâm, trọng điểm, phù hợp với từng đối tượng, địa bàn, đáp ứng yêu cầu phát triển đời sống xã hội của đất nước.
Việc xây dựng Chương trình PBGDPL giai đoạn 2017- 2021 nói riêng và các Chương trình, Đề án, Kế hoạch phổ biến, giáo dục pháp luật nói chung sẽ được Bộ Tư pháp phối hợp với các cơ quan hữu quan nghiên cứu, rà soát, cân đối đảm bảo thiết thực, hiệu quả, tránh chồng chéo. Hiện tại, Bộ đã đề xuất bổ sung việc xây dựng dự thảo Chương trình vào Chương trình làm việc của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ năm 2017 nhằm tạo cơ sở pháp lý thuận lợi cho các Bộ, ngành, địa phương triển khai thực hiện PBGDPL một cách bài bản và hiệu quả hơn trong thời gian tới.
Trong quá trình triển khai thực hiện công tác PBGDPL, Bộ Tư pháp đề nghị các Bộ, ngành, địa phương quan tâm chỉ đạo, hướng dẫn việc lồng ghép triển khai thực hiện công tác PBGDPL thường xuyên với các Chương trình, Đề án, Kế hoạch về PBGDPL, nhằm đảm bảo sự khoa học, thống nhất, có sự phân công, phân nhiệm triển khai thực hiện hoạt động PBGDPL cụ thể giữa các Bộ, ngành, địa phương, tránh sự chồng chéo, trùng lắp, lãng phí nguồn lực đầu tư của nhà nước về cùng một đối tượng; tránh trùng lắp hoạt động hoặc đề xuất hoạt động không cần thiết, đảm bảo sử dụng hợp lý, tiết kiệm, hiệu quả ngân sách nhà nước đầu tư phục vụ công tác này.

6. Đề nghị Bộ Tư pháp ban hành chủ trương, chính sách hoặc văn bản chỉ đạo liên quan đến việc tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật (xây dựng trang thông tin điện tử, cơ sở dữ liệu phổ biến, giáo dục pháp luật...) để định hướng, tạo cơ sở pháp lý cho các địa phương triển khai thực hiện.

Trả lời:
Nội dung “tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật” đã được Bộ Tư pháp lồng ghép trong nội dung Kế hoạch hoạt động PBGDPL, hòa giải ở cơ sở, xây dựng địa phương đạt chuẩn tiếp cận pháp luật và hương ước quy ước năm 2016 và tiếp tục lồng ghép trong nội dung Kế hoạch hoạt động PBGDPL, hòa giải ở cơ sở, xây dựng địa phương đạt chuẩn tiếp cận pháp luật và hương ước quy ước năm 2017. Đây là văn bản chỉ đạo liên quan đến việc tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác PBGDPL.
Hiện nay, Bộ Tư pháp đang nghiên cứu, xây dựng để trình Thủ tướng Chính phủ ban hành trong năm 2017 đối với Đề án đổi mới công tác PBGDPL giai đoạn 2017 - 2021, trong đó có nội dung về “tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác PBGDPL”.
V. LĨNH VỰC TRỢ GIÚP PHÁP LÝ

1. Đề nghị Bộ Tư pháp tiếp tục quan tâm, có hướng dẫn hoặc nghiên cứu đối với Báo cáo số 650/BC-STP ngày 05/02/2016 về kết quả công tác trợ giúp pháp lý năm 2015 trên địa bàn Thành phố.

Trả lời:
Qua kiểm tra hồ sơ Công văn đến, Cục Trợ giúp pháp lý không nhận được Báo cáo số 650/BC-STP ngày 05/02/2016 của Sở Tư pháp thành phố Hồ Chí Minh, Cục chỉ nhận được Báo cáo kèm Bản tổng hợp kiến nghị các địa phương do Văn phòng Bộ chuyển đến tại Công văn số 1736/VP-TH ngày 29/11/2016. Sau khi xem xét những đề xuất của Sở Tư pháp thành phố Hồ Chí Minh tại điểm a, mục 4 Báo cáo 650/BC-STP, Cục Trợ giúp pháp lý - Bộ Tư pháp trả lời như sau:

1.1. Về đề nghị Bộ Tư pháp tăng cường công tác bồi dưỡng nghiệp vụ cho người tham gia TGPL

Trong thời gian qua, Bộ Tư pháp (Cục TGPL) luôn quan tâm đến công tác tập huấn, bồi dưỡng nhằm nâng cao năng lực, bảo đảm chất lượng nguồn nhân lực thực hiện TGPL. Một trong những mục tiêu quan trọng của Đề án đổi mới công tác TGPL giai đoạn 2015 - 2025 là nâng cao chất lượng TGPL. Để góp phần nâng cao chất lượng TGPL, Đề án đổi mới đưa ra nhiệm vụ, giải pháp nhằm nâng cao năng lực cho đội ngũ người thực hiện TGPL, chính vì vậy, trong năm 2016, Bộ Tư pháp (Cục TGPL) đã tổ chức 03 lớp tập huấn chuyên sâu và 10/10 lớp tập huấn kỹ năng tham gia tố tụng với 675 người tham dự. Lớp tập huấn đã kịp thời trang bị cho đội ngũ người thực hiện TGPL những nội dung mới về Bộ luật, luật tố tụng năm 2015 và các kỹ năng tham gia tố tụng đặc biệt là trong lĩnh vực tố tụng hình sự, tố tụng dân sự, hành chính góp phần nâng cao trình độ chuyên môn cho người thực hiện TGPL.
Trong những năm tiếp theo, căn cứ vào điều kiện thực tế và nhu cầu của các địa phương, Bộ Tư pháp (Cục TGPL) tiếp tục tổ chức các lớp tập huấn nhằm nâng cao trình độ chuyên môn cho đội ngũ người thực hiện TGPL nhằm đáp ứng nhu cầu TGPL ngày càng đa dạng của người dân..
Tuy nhiên, do hạn chế về kinh phí, Bộ Tư pháp (Cục TGPL) chỉ tổ chức được các lớp tập huấn nghiệp vụ cho đội ngũ lãnh đạo hoặc một số Trợ giúp viên pháp lý, Cộng tác viên TGPL mà chưa thể tổ chức bồi dưỡng nghiệp vụ cho tất cả đội ngũ người thực hiện TGPL ở địa phương. Trong năm 2016, Cục TGPL (Bộ Tư pháp) đã mời đội ngũ người thực hiện TGPL của Trung tâm TGPL nhà nước thành phố Hồ Chí Minh tham dự 01 lớp tập huấn chuyên sâu với sự tham dự của 09 Trợ giúp viên pháp lý, 15 Luật sư - Cộng tác viên và 01 lớp tập huấn kỹ năng tham gia tố tụng với sự tham dự của 07 Trợ giúp viên pháp lý, 31 Luật sư - Cộng tác viên. Để nâng cao trình độ nghiệp vụ và kỹ năng cho đội ngũ người thực hiện TGPL ở địa phương, các Trung tâm cần chủ động, có kế hoạch bồi dưỡng kiến thức pháp luật và kỹ năng TGPL cho người thực hiện TGPL ở địa phương.
Ủy ban nhân dân Thành phố cần hỗ trợ kinh phí tổ chức các lớp tập huấn cập nhật kiến thức pháp luật mới và nâng cao trình độ nghiệp vụ TGPL ở địa phương để Sở Tư pháp chỉ đạo Trung tâm tham mưu tổ chức các khóa tập huấn bồi dưỡng nghiệp vụ cho người thực hiện TGPL tại địa phương theo đúng chức năng, nhiệm vụ của Trung tâm.

1.2. Về việc đề nghị Bộ Tư pháp phối hợp với các cơ quan trong Hội đồng phối hợp liên ngành về TGPL trong hoạt động tố tụng ở Trung ương thường xuyên kiểm tra Hội đồng phối hợp liên ngành cấp tỉnh trong hoạt động tố tụng ở cấp tỉnh để củng cố, chấn chỉnh các sai sót và động viên khen thưởng kịp thời

Hàng năm, Bộ Tư pháp với tư cách là cơ quan thường trực của Hội đồng phối hợp liên ngành Trung ương đã ban hành kế hoạch hoạt động liên ngành về TGPL trong hoạt động tố tụng. Nội dung Kế hoạch xác định các hoạt động cụ thể trong đó có hoạt động của Hội đồng phối hợp liên ngành Trung ương tổ chức các Đoàn kiểm tra kết quả thực hiện công tác TGPL trong hoạt động tố tụng, mỗi năm, Hội đồng tổ chức khoảng 02 - 04 Đoàn kiểm tra tại các Hội đồng phối hợp liên ngành ở địa phương, trong đó phần lớn các Đoàn do Lãnh đạo Bộ các ngành thành viên làm trưởng đoàn.
Năm 2016, Hội đồng đã tổ chức 01 Đoàn kiểm tra tại Cà Mau, Kiên Giang với sự tham gia đầy đủ của đại diện các Bộ, ngành thuộc thành viên Hội đồng phối hợp liên ngành ở Trung ương. Qua hoạt động kiểm tra, Đoàn kiểm tra đã kịp thời chỉ ra những thiếu sót, hạn chế của Hội đồng phối hợp liên ngành ở địa phương trong việc triển khai thực hiện Thông tư liên tịch số 11/2013/TTLT-BTP-BCA-BQP-BTC-VKSNDTC-TANDTC ngày 04/7/2013 của Bộ Tư pháp, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thực hiện một số quy định của pháp luật về TGPL trong hoạt động tố tụng.
Trong thời gian tới, Cục TGPL (Bộ Tư pháp) tiếp tục tham mưu cho Hội đồng phối hợp liên ngành Trung ương tăng cường các Đoàn kiểm tra về TGPL trong hoạt động tố tụng tại các địa phương.

1.3. Về đề xuất ban hành Thông tư hướng dẫn Nghị định số 80/2015/NĐ-CP ngày 17 tháng 9 năm 2015 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 14/2013/NĐ-CP ngày 05/02/2013 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 07/2007/NĐ-CP ngày 12/01/2007 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý

Triển khai thực hiện Nghị định số 80/2015/NĐ-CP ngày 17/9/2015 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 14/2013/NĐ-CP ngày 05/02/2013 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 07/2007/NĐ-CP ngày 12/01/2007 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý, Cục TGPL (Bộ Tư pháp) đang tham mưu cho Lãnh đạo Bộ ký ban hành Thông tư sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 18/2013/TT-BTP ngày 20/11/2013 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp hướng dẫn cách tính thời gian thực hiện và thủ tục thanh toán chi phí thực hiện vụ việc trợ giúp pháp lý. Trong đó, dự thảo Thông tư quy định hình thức khoán chi theo vụ việc được áp dụng đối với những vụ việc tham gia tố tụng.
Dự thảo Thông tư đã được lấy ý kiến góp ý của các địa phương trong toàn quốc (trong đó đã lấy ý kiến góp ý 02 lần của Trung tâm TGPL nhà nước thành phố Hồ Chí Minh). Hiện nay, Bộ Tư pháp đang lấy ý kiến góp ý của Bộ Tài chính để hoàn thiện hồ sơ thẩm định và trình Bộ trưởng Bộ Tư pháp ký ban hành trong thời gian tới.

1.4. Về đề nghị Bộ Tư pháp sớm sửa đổi, bổ sung Luật TGPL năm 2006 và các văn bản hướng dẫn thi hành, đảm bảo khung pháp lý triển khai, thực hiện Đề án đổi mới công tác TGPL giai đoạn 2015 - 2025

a) Về việc sửa đổi, bổ sung Luật TGPL năm 2006
Ngày 10/11/2016, dự án Luật TGPL (sửa đổi) đã được Quốc hội thảo luận tại Hội trường. Hiện nay, Bộ Tư pháp đang phối hợp với Ủy ban Pháp luật của Quốc hội tiếp thu, hoàn thiện dự thảo Luật báo cáo Ủy ban thường vụ Quốc hội và trình Quốc hội thông qua tại kỳ họp thứ 3 năm 2017. Đồng thời, Bộ Tư pháp cũng đang nghiên cứu, xây dựng các văn bản chi tiết hướng dẫn điều, khoản, điểm được giao trong Luật để bảo đảm việc triển khai được đồng bộ, thống nhất khi Luật có hiệu lực.
b) Về triển khai thực hiện Đề án đổi mới công tác TGPL giai đoạn 2015 - 2025
Ngày 01/6/2015, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 749/QĐ-TTg phê duyệt Đề án đổi mới công tác TGPL giai đoạn 2015 - 2025 (sau đây gọi tắt là Đề án). Đề án hướng tới nâng cao chất lượng hoạt động TGPL, tập trung vào vụ việc TGPL, trong đó chú trọng vụ việc tham gia tố tụng; đẩy mạnh xã hội hóa hoạt động TGPL và thực hiện việc hỗ trợ đối với các vụ việc TGPL trong lĩnh vực tố tụng. Đến nay, phần lớn các nội dung trong Đề án được các địa phương đang triển khai thực hiện như: tập trung vào vụ việc, rà soát Chi nhánh, Câu lạc bộ TGPL, huy động luật sư, tổ chức hành nghề luật sư tham gia thực hiện TGPL...
Đối với các kiến nghị cụ thể của UBND thành phố Hồ Chí Minh, Bộ Tư pháp (Cục TGPL) trả lời như sau:
- Về sắp xếp tổ chức, bộ máy:
Một trong những nhiệm vụ, giải pháp được đặt ra trong Đề án đổi mới công tác TGPL là sắp xếp tổ chức các Trung tâm TGPL nhà nước theo hướng tinh gọn, tinh giản tổ chức bộ máy, biên chế, qua đó giảm bớt được chi phí hành chính, tập trung nguồn lực để nâng cao chất lượng TGPL. Việc chia thành 02 bộ phận để chuyển các Trung tâm từ trực tiếp cung cấp dịch vụ TGPL thành cơ quan thực hiện quản lý TGPL ở giai đoạn sau. Đề án không xác định chấm dứt việc phân chia thành các phòng nghiệp vụ. Việc xác định số lượng Phòng, thẩm quyền thành lập Phòng được quy định tại Thông tư liên tịch số 08/2008/TTLT-BTP-BNV giữa Bộ Tư pháp và Bộ Nội vụ (theo đó: Số lượng và tên gọi các Phòng Nghiệp vụ do Chủ tịch UBND cấp tỉnh quyết định). Hiện tại, do Thông tư liên tịch số 08/2008/TTLT-BTP-BNV chưa sửa đổi, nên thẩm quyền xác định Trung tâm TGPL có các Phòng hay không, số lượng phòng do Chủ tịch UBND thành phố Cần Thơ quyết định dựa trên khối lượng, tính chất, đặc điểm tình hình của địa phương (về số lượng Trợ giúp viên pháp lý, điều kiện cơ sở vật chất, nhu cầu của người dân trên địa bàn) và theo quy định của pháp luật.
- Về số biên chế dôi dư: Tại hoạt động 3, tiểu mục 1.3, mục 1, phần II, Kế hoạch triển khai Đề án đổi mới (ban hành kèm theo Quyết định số 1543/QĐ-BTP của Bộ trưởng Bộ Tư pháp) xác định cơ quan chủ trì thực hiện hướng dẫn việc liên quan đến số biên chế dôi dư của Trung tâm TGPL là Bộ Nội vụ. Việc đánh giá, sắp xếp đội ngũ viên chức các Trung tâm Trợ giúp pháp lý cần thực hiện phù hợp với tinh thần Nghị quyết số 39-NQ/TW ngày 17/4/2015 của Bộ Chính trị về tinh giản biên chế và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; Luật viên chức, Nghị định 29/2012/NĐ-CP ngày 12/04/2012 của Chính phủ về tuyển dụng, sử dụng và quản lý viên chức, Nghị định 108/2014/NĐ-CP ngày 20/11/2014 về chính sách tinh giản biên chế. Do đó, khi triển khai, UBND thành phố Cần Thơ cần phải bám sát chặt chẽ vào các quy định trên để sắp xếp, chuyển đổi biên chế của các Trung tâm với lộ trình và bước đi phù hợp.
 
 

Minh Long


[1] Hiện còn 9/24 bộ, ngành chưa hoàn thành công bố chuẩn hóa và nhập liệu thủ tục hành chính vào CSDL quốc gia.