Phản ánh, kiến nghị của một số tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long về công tác tư pháp
Sign In
  • * Chào mừng Quý vị và các bạn đến với Trang thông tin điện tử Cục Công tác phía Nam, Bộ Tư pháp *

Phản ánh kiến nghị ở địa phương

Phản ánh, kiến nghị của một số tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long về công tác tư pháp

​Khu vực phía Nam với 25 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương là địa bàn có hoạt động tư pháp, thi hành án dân sự sôi động nhất cả nước. Dứoi đây là trả lời, hướng dẫn của Bộ Tư pháp về một số vấn đề phát sinh trong thực tiễn theo kiến nghị của 10 địa phương trong Khu vực.

A. KIẾN NGHỊ CỦA UBND THÀNH PHỐ CẦN THƠ
I. LĨNH VỰC QUẢN LÝ XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH VÀ THEO DÕI THI HÀNH PHÁP LUẬT

1. Đề nghị Bộ Tư pháp sớm tham mưu Chính phủ ban hành đầy đủ các Nghị định hướng dẫn thi hành Luật Xử lý vi phạm hành chính như Nghị định về cơ sở dữ liệu xử lý vi phạm hành chính, xây dựng phần mềm dùng chung, phần mềm thống kê về công tác xử lý vi phạm hành chính, xây dựng Cơ sở Dữ liệu quốc gia về xử lý vi phạm hành chính để triển khai thực hiện thống nhất trong toàn quốc.

Trả lời:
Thực hiện Quyết định số 1473/QĐ-TTg ngày 05/10/2012 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Kế hoạch triển khai và Danh mục nghị định quy định chi tiết thi hành Luật Xử lý vi phạm hành chính, Bộ Tư pháp đã khẩn trương chủ trì, phối hợp với các cơ quan hữu quan nghiên cứu, soạn thảo Nghị định quy định Cơ sở dữ liệu quốc gia về xử lý vi phạm hành chính và trình Chính phủ vào tháng 12/2015. Ngày 30/3/2016, Chính Phủ đã ký ban hành Nghị định số 20/2016/NĐ-CP quy định Cơ sở dữ liệu quốc gia về xử lý vi phạm hành chính, theo đó, Nghị định đã có hiệu lực thi hành từ ngày 15/5/2016.
Bên cạnh đó, Bộ Tư pháp cũng đã nghiên cứu, soạn thảo Đề án xây dựng Cơ sở dữ liệu quốc gia về xử lý vi phạm hành chính và đã trình Thủ tướng Chính phủ ngày 31/10/2016. Theo lộ trình được xác định trong Đề án, nếu được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt thì trong giai đoạn 2017 - 2019, việc xây dựng phần mềm quản lý thông tin về xử lý vi phạm hành chính sẽ được triển khai tại Bộ Tư pháp, 08 Bộ, cơ quan ngang Bộ và 31 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương để sớm triển khai thực hiện thống nhất trong toàn quốc, đáp ứng yêu cầu thực tiễn trong quản lý nhà nước cũng như quản lý xã hội.

2. Đề nghị Bộ Tư pháp xây dựng Quy chế phối hợp giữa các Bộ, ngành Trung ương trong công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật để tạo sự chỉ đạo phối hợp thống nhất từ Trung ương đến địa phương.

Trả lời:
Hiện nay, Bộ Tư pháp đã và đang phối hợp với các một số Bộ, ngành, cơ quan Trung ương trong việc xây dựng Quy chế phối hợp công tác, trong đó, có các nội dung về công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật, như: Bộ Giáo dục và Đào tạo, Ủy ban Dân tộc... Trong thời gian tới, Bộ Tư pháp sẽ tiếp tục phối hợp với các Bộ, ngành, cơ quan khác để tiếp tục xây dựng Quy chế phối hợp, đảm bảo sự chỉ đạo phối hợp thống nhất từ Trung ương tới địa phương.
II. LĨNH VỰC KIỂM SOÁT THỦ TỤC HÀNH CHÍNH         

1. Đề nghị Bộ Tư pháp nghiên cứu, sửa đổi Thông tư số 05/2014/TT-BTP theo hướng mở, cho phép địa phương công bố thủ tục hành chính theo quy định của văn bản quy phạm pháp luật trong trường hợp quyết định công bố của Bộ, ngành chậm hoặc chưa chính xác; sớm ban hành quyết định công bố thủ tục hành chính liên thông trong thực hiện đăng ký khai sinh, đăng ký hộ khẩu, cấp thẻ bảo hiểm y tế (thay thế nội dung thủ tục liên thông tại Quyết định số 1500/QĐ-BTP ngày 13/8/2015, trong đó có công bố thủ tục hành chính liên thông về đăng ký khai sinh đã không còn phù hợp với Luật Hộ tịch nhưng chưa sửa đổi, bổ sung kịp thời) để địa phương làm căn cứ công bố thực hiện.

Trả lời:
- Về đề nghị sửa đổi Thông tư 05/2014/TT-BTP theo hướng mở, cho phép địa phương công bố TTHC theo quy định của văn bản quy phạm pháp luật trong trường hợp quyết định công bố của Bộ, ngành chậm hoặc chưa chính xác, Bộ Tư pháp có ý kiến như sau:
Trên cơ sở quy định của Nghị định số 63/2010/NĐ-CP và Nghị định số 48/2013/NĐ-CP thì Quyết định công bố của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ có giá trị là văn bản gốc để các cơ quan chuyên môn về ngành, lĩnh vực thuộc UBND tỉnh tiếp nhận, sử dụng làm cơ sở xây dựng quyết định công bố, trình Chủ tịch UBND tỉnh ban hành để thực hiện tại địa phương. Quy định nêu trên nhằm khắc phục tình trạng thiếu thống nhất, nhiều phiên bản trong công bố, công khai thủ tục hành chính; giảm công sức, thời gian cho cán bộ công chức tại các sở, ngành chuyên môn. Do đó, việc công bố công khai thủ tục hành chính theo cách thức: Bộ công bố trước, địa phương công bố sau trên cơ sở quyết định công bố của Bộ là phù hợp. Trường hợp Bộ, ngành công bố chậm hoặc chưa chính xác thì địa phương có văn bản gửi Bộ, ngành đó hoặc gửi Bộ Tư pháp để đôn đốc hoặc đề nghị chỉnh lý quyết định công bố, bảo đảm thực hiện đúng quy định của pháp luật.
- Về đề nghị sớm ban hành quyết định công bố TTHC liên thông trong thực hiện đăng ký khai sinh, đăng ký hộ khẩu, cấp thẻ bảo hiểm y tế (thay thế nội dung thủ tục liên thông tại Quyết định số 1500/QĐ-BTP ngày 13/8/2015, trong đó có công bố TTHC liên thông về đăng ký khai sinh đã không còn phù hợp với Luật Hộ tịch nhưng chưa sửa đổi, bổ sung kịp thời) để địa phương làm căn cứ công bố thực hiện, Bộ Tư pháp có ý kiến như sau:
Sau khi Thông tư liên tịch số 05/2015/BTP-BCA-BYT ngày 15/5/2015  hướng dẫn thực hiện liên thông các thủ tục hành chính về đăng ký khai sinh, đăng ký thường trú, cấp thẻ bảo hiểm y tế cho trẻ em dưới 6 tuổi, Bộ Tư pháp đã ban hành Quyết định số 1500/QĐ-BTP ngày 13/8/2015, trong đó có công bố TTHC liên thông trong thực hiện đăng ký khai sinh, đăng ký hộ khẩu, cấp thẻ bảo hiểm y tế. Tuy nhiên, một số địa phương đã không công bố kịp thời theo Quyết định công bố của Bộ để thực hiện tại địa phương. Điều đó dẫn đến trường hợp vào ngày 01/01/2016, khi Luật Hộ tịch và Luật Căn cước công dân có hiệu lực có hiệu lực thi hành, một số địa phương không thể công bố vì căn cứ pháp lý thay đổi.
Bộ trưởng Bộ Tư pháp cũng đã ban hành Quyết định số 299/QĐ-BTP ngày 29/02/2016 công bố TTHC mới ban hành trong lĩnh vực hộ tịch thực hiện tại cơ quan đăng ký hộ tịch trong nước sau khi Luật Hộ tịch được ban hành. Hiện nay việc cấp Giấy khai sinh và số định danh cá nhân cho trẻ em đang được triển khai. Trong trường hợp các địa phương vẫn tiếp tục thực hiện quy trình liên thông theo Thông tư liên tịch số 05/2015/BTP-BCA-BYT thì có thể vận dụng quy định mới của Luật Hộ tịch (đã được công bố) để điều chỉnh về thành phần hồ sơ, thời gian thực hiện.
III. LĨNH VỰC HỘ TỊCH, QUỐC TỊCH, CHỨNG THỰC

1. Đề nghị Bộ Tư pháp sớm hoàn thiện Cơ sở dữ liệu chung về quốc tịch để thuận lợi hơn trong quá trình tra cứu danh sách công dân đã thôi quốc tịch Việt Nam nhằm đảm bảo việc giải quyết các vấn đề liên quan đến quốc tịch đúng thời hạn quy định và mang tính chính xác cao hơn trong thời gian tới.

Trả lời:
Hiện tại, phần mềm hệ thống quản lý hồ sơ quốc tịch đang tiếp tục được nâng cấp và hoàn thiện. Sau khi hoàn thiện (dự kiến trong năm 2017), Bộ Tư pháp dự kiến sẽ triển khai thí điểm đối với một số cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài và địa phương trong nước nơi có nhiều yêu cầu giải quyết các việc liên quan đến quốc tịch để sử dụng. Song song với việc này, ngày 31/11/2016, Bộ Tư pháp đã tổ chức lớp tập huấn triển khai các phân hệ phần mềm trong lĩnh vực quốc tịch cho các Sở Tư pháp.
Sau khi phần mềm này ổn định và đi vào hoạt động sẽ đảm bảo việc giải quyết các vấn đề liên quan đến quốc tịch đúng thời hạn quy định và mang tính chính xác cao.
IV. LĨNH VỰC ĐÀO TẠO CÁC CHỨC DANH TƯ PHÁP VÀ BỒI DƯỠNG NGHIỆP VỤ

1. Đề nghị Bộ Tư pháp thường xuyên tổ chức các lớp bồi dưỡng nghiệp vụ trong lĩnh vực theo dõi tình hình thi hành pháp luật cho đội ngũ công chức, viên chức nhằm nâng cao kỹ năng trình độ nghiệp vụ cũng như nâng cao sự nhận thức về tầm quan trọng và ý nghĩa của công tác này.

Trả lời:
Năm 2015 và 2016, Bộ Tư pháp đã tổ chức tập huấn về công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật cho cán bộ làm công tác này tại một số địa phương trong cả nước, cụ thể:
- Năm 2015 tổ chức 02 Hội nghị tập huấn chuyên sâu về công tác theo dõi thi hành pháp luật tại Hà Nội (08-09/10/2015); tại Tp. Hồ Chí Minh (22-23/10/2015);
- Năm 2016 tổ chức 03 Hội nghị tập huấn chuyên sâu về công tác theo dõi thi hành pháp luật tại Điện Biên (06-07/10/2016); tại Trà Vinh (15-16/11/2016); tại Đắk Lắk (dự kiến 14-15/12/2016);
Trong năm 2017, Bộ Tư pháp dự kiến tiếp tục tổ chức các Hội nghị tập huấn chuyên sâu về công tác theo dõi thi hành pháp luật nhằm phổ biến sâu rộng hơn những quy định của pháp luật về theo dõi tình hình thi hành pháp luật, qua đó nâng cao nhận thức của công chức, viên chức về công tác này cũng như tạo điều kiện để các địa phương được trao đổi, kiến nghị trả lời nhiều vấn đề trong thực tiễn triển khai công việc. Đề nghị các địa phương xác định nhu cầu bồi dưỡng, có văn bản đề nghị Bộ để chỉ đạo xây dựng kế hoạch cho năm 2017 và những năm tiếp theo.

 


B. KIẾN NGHỊ CỦA UBND TỈNH BẠC LIÊU
I. LĨNH VỰC QUẢN LÝ XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH VÀ THEO DÕI THI HÀNH PHÁP LUẬT

1. Đề nghị Bộ Tư pháp trình Chính phủ ban hành Nghị định sửa đổi, bổ sung Nghị định số 81/2013/NĐ-CP ngày 19/7/2013 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Xử lý vi phạm hành chính; ban hành Thông tư hường dẫn quy trình cung cấp, tiếp nhận, cập nhật và khai thác, sử dụng cơ sở dữ liệu quốc gia về xử lý vi phạm hành chính.

Trả lời:
Hiện nay, Bộ Tư pháp đang nghiên cứu, chỉnh lý, hoàn thiện dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 81/2013/NĐ-CP trên cơ sở tổng hợp ý kiến góp ý của các Bộ, ngành, địa phương và dự kiến trình Chính phủ xem xét, ký ban hành trong tháng 12/2016.
Đồng thời, Cục QLXLVPHC&TDTHPL – Bộ Tư pháp cũng đang chỉnh lý, hoàn thiện dự thảo Thông tư quy định quy trình cung cấp, tiếp nhận, cập nhật thông tin và khai thác, sử dụng cơ sở dữ liệu quốc gia về xử lý vi phạm hành chính trên cơ sở ý kiến thẩm định, dự kiến sẽ trình Lãnh đạo Bộ xem xét, ký ban hành trong tháng 12/2016.

 


C. KIẾN NGHỊ CỦA UBND TỈNH ĐỒNG THÁP
I. LĨNH VỰC XÂY DỰNG, THẨM ĐỊNH VĂN BẢN QUY PHẠM  PHÁP LUẬT VÀ CÔNG TÁC PHÁP CHẾ

1. Khoản 4 Điều 14 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 (Luật năm 2015) cấm chính quyền địa phương quy định thủ tục hành chính. Tuy nhiên, Luật tổ chức chính quyền địa phương cho phép địa phương quy định các chính sách, biện pháp tổ chức thực hiện theo chức năng, nhiệm vụ; nhất là chính quyền đô thị được thực hiện những chức năng, nhiệm vụ có tính chất đặc thù, được phân cấp, ủy quyền mạnh hơn so với chính quyền nông thôn. Để triển khai những chính sách, biện pháp này thì địa phương cần phải quy định về điều kiện, thủ tục thực hiện. Do đó, việc Luật năm 2015 cấm quy định thủ tục hành chính trong văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương sẽ gây khó khăn trong việc triển khai các quy định, chính sách riêng của từng địa phương. Vì vậy, đề nghị Bộ Tư pháp sớm nghiên cứu, rà soát để tham mưu sửa đổi Luật cho phù hợp thực tiễn.

Trả lời:
Về vấn đề này, Bộ Tư pháp đã có Công văn số 4218/BTP-VĐCXDPL ngày 28/11/2016 trả lời về một số quy định của Luật năm 2015 và Nghị định số 34/2016/NĐ-CP gửi các Bộ, cơ quan ngang Bộ và 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, trong đó có nội dung trả lời về việc quy định thủ tục hành chính trong nghị quyết của HĐND cấp tỉnh. Cụ thể như sau:
Theo quy định tại khoản 4 Điều 14 của Luật năm 2015 thì Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, HĐND, UBND các cấp chỉ được quy định thủ tục hành chính trong trường hợp được luật giao. Luật năm 2015 bổ sung quy định này là nhằm hạn chế các Bộ, ngành và các cấp chính quyền địa phương đặt ra các thủ tục hành chính trong văn bản quy phạm pháp luật, góp phần tạo lập môi trường kinh doanh thông thoáng, thuận lợi, bảo vệ tốt hơn quyền, lợi ích hợp pháp của người dân, doanh nghiệp. 
Riêng đối với HĐND cấp tỉnh, theo quy định tại khoản 4 Điều 27 của Luật năm 2015, HĐND cấp tỉnh có thẩm quyền ban hành nghị quyết để quy định biện pháp có tính chất đặc thù phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Như vậy, trường hợp để thực hiện được biện pháp đặc thù đó mà cần phải quy định về trình tự, cách thức thực hiện, hồ sơ, yêu cầu, điều kiện… thì việc quy định những nội dung này trong nghị quyết của HĐND cấp tỉnh là phù hợp với quy định “được giao trong luật”. Tuy nhiên, việc quy định các biện pháp có tính chất đặc thù ở địa phương phải bảo đảm phù hợp với đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước; đảm bảo tính hợp hiến, tính hợp pháp, tính thống nhất của hệ thống pháp luật.
II. LĨNH VỰC KIỂM TRA, RÀ SOÁT, HỢP NHẤT VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT, PHÁP ĐIỂN HỆ THỐNG QUY PHẠM PHÁP LUẬT

1. Đề nghị Bộ Tư pháp cần tiếp tục quan tâm hơn nữa trong việc chủ trì hoặc phối hợp với các ngành có liên quan, tăng cường hướng dẫn, chỉ đạo quyết liệt, kịp thời đối với các lĩnh vực kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa, tránh chồng chéo, mâu thuẫn trong các văn bản hướng dẫn, chỉ đạo.

Trả lời:
Thực hiện chức năng, nhiệm vụ được Chính phủ giao, trên cơ sở xác định rõ tầm quan trọng của công tác kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật (QPPL) đối với việc xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và tổ chức thi hành pháp luật, nâng cao vai trò, hiệu quả của pháp luật trong việc đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước, trong thời gian qua, Bộ Tư pháp luôn coi trọng việc quan tâm, hướng dẫn, chỉ đạo các Bộ, ngành, địa phương thực hiện nghiêm túc, chất lượng, hiệu quả công tác kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản QPPL theo quy định của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008, Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật của HĐND và UBND năm 2004 (nay là Luật ban hành văn bản QPPL năm 2015); Nghị định số 40/2010/NĐ-CP ngày 12/4/2010 của Chính phủ về kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật, Nghị định số 16/2013/NĐ-CP ngày 06/12/2013 của Chính phủ về rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật (nay là Nghị định số 34/2016/NĐ-CP ngày 14/5/2016 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật).
Năm 2014, trên cơ sở kết quả của Hội nghị tổng kết 10 năm thực hiện công tác kiểm tra, xử lý văn bản QPPL (2003 - 2013), Bộ Tư pháp đã ban hành Công văn số 191/BTP-KTrVB ngày 20/01/2014 về việc “Tăng cường chỉ đạo công tác kiểm tra, xử lý văn bản QPPL” gửi Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ và Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương để đề nghị triển khai thực hiện đồng bộ 4 giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng công tác kiểm tra, xử lý văn bản QPPL, bao gồm: (1) Chỉ đạo thực hiện nghiêm quy định của pháp luật; (2) Tăng cường tự kiểm tra và kiểm tra văn bản QPPL theo thẩm quyền, đặc biệt tập trung vào các lĩnh vực kinh tế - xã hội có nhiều bức xúc, xử lý triệt để, kịp thời những văn bản trái pháp luật đã được phát hiện hoặc được thông báo; (3) Quan tâm bố trí nhân lực, kinh phí và các điều kiện đảm bảo khác trong thực hiện công tác soạn thảo, thẩm định, ban hành, kiểm tra, xử lý văn bản QPPL; (4) Phối hợp chặt chẽ, thường xuyên, hiệu quả với Bộ Tư pháp trong thực hiện công tác soạn thảo, thẩm định, ban hành, kiểm tra, xử lý văn bản QPPL. 
 Bên cạnh đó, hàng năm, Bộ Tư pháp đều phối hợp với Văn phòng Chính phủ, Bộ Tài chính, Bộ Nội vụ tổ chức các Đoàn công tác liên ngành thực hiện kiểm tra, nắm tình hình về việc triển khai thực hiện công tác xây dựng, ban hành và kiểm tra, xử lý, rà soát, hệ thống hóa văn bản QPPL tại các Bộ, cơ quan ngang Bộ và địa phương để kịp thời hướng dẫn, giải quyết các vấn đề khó khăn vướng mắc, rút kinh nghiệm trong thực hiện công tác soạn thảo, ban hành, kiểm tra, xử lý và rà soát, hệ thống hóa văn bản QPPL; trao đổi, làm rõ các văn bản có dấu hiệu vi phạm về nội dung, thẩm quyền, hiệu lực và đề nghị cơ quan, người ban ban hành tự tổ chức kiểm tra, xử lý và thông báo kết quả xử lý cho Bộ Tư pháp. Hoạt động kiểm tra trực tiếp của các Đoàn công tác liên ngành do Bộ Tư pháp chủ trì đã giúp Lãnh đạo các cơ quan cấp Bộ, Ủy ban nhân dân các địa phương nâng cao nhận thức, quan tâm hơn đối với việc triển khai thực hiện các công tác kiểm tra, xử lý rà soát, hệ thống hóa văn bản, chỉ đạo các tổ chức pháp chế, Sở Tư pháp khắc phục những hạn chế, yếu kém trong việc thực hiện các công tác nêu trên tại cơ quan, địa phương mình, từ đó không ngừng nâng cao chất lượng công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế pháp luật.
Đồng thời với việc kiểm tra trực tiếp, hàng năm Bộ Tư pháp đều chủ trì tổ chức các lớp tập huấn nghiệp vụ về công tác kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản cho các công chức làm công tác này tại các cơ quan cấp Bộ và địa phương (riêng năm 2016 đã tổ chức 03 lớp tập huấn tại 3 miền Bắc, Trung, Nam); thường xuyên phối hợp chặt chẽ với các Bộ, ngành trong việc tập huấn, hướng dẫn nghiệp vụ về công tác kiểm tra, rà soát, hệ thống hoá văn bản QPPL, cử nhiều lượt lãnh đạo, công chức của Bộ tham gia tập huấn nghiệp vụ cho các bộ, ngành[1]. Riêng đối với công tác rà soát, hệ thống hóa văn bản QPPL, năm 2015 Bộ Tư pháp đã tổ chức tọa đàm với tổ chức pháp chế các Bộ, ngành, địa phương để trao đổi kinh nghiệm về kỹ năng rà soát thường xuyên, rà soát văn bản QPPL theo chuyên đề, lĩnh vực, địa bàn, hệ thống hóa văn bản QPPL. Ngoài ra, Bộ Tư pháp cũng đã biên soạn, xuất bản các Sổ tay hướng dẫn nghiệp vụ về kiểm tra văn bản QPPL; rà soát, hệ thống hóa văn bản QPPL; Sổ tay tình huống nghiệp vụ rà soát, hệ thống hóa văn bản QPPL để cung cấp những kiến thức cần thiết về kỹ năng, nghiệp vụ, kinh nghiệm cho cán bộ, công chức trực tiếp làm công tác nêu trên tại các Bộ, ngành, địa phương.
Bên cạnh việc hướng dẫn, chỉ đạo các địa phương và Bộ, ngành khác trong công tác kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản QPPL, hàng năm Bộ Tư pháp đã thực hiện kiểm tra hàng nghìn văn bản QPPL thuộc thẩm quyền, phát hiện hàng trăm văn bản không phù hợp với quy định của pháp luật[2]; thực hiện rà soát văn bản thuộc trách nhiệm của Bộ Tư pháp, ban hành các Quyết định công bố Danh mục văn bản QPPL hết hiệu lực toàn bộ hoặc một phần hàng năm[3]
Tuy nhiên, thực tiễn hiện nay vẫn còn tồn tại những quy định pháp luật mâu thuẫn, chồng chéo, chưa thống nhất trong toàn hệ thống văn bản QPPL. Theo quy định tại Điều 111 và 139 Nghị định số 34/2016/NĐ-CP ngày 14/5/2016 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Ban hành văn bản QPPL, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân các cấp có trách nhiệm tự kiểm tra văn bản do mình ban hành hoặc liên tịch ban hành ngay sau khi văn bản được ban hành và thực hiện rà soát, hệ thống hóa văn bản do mình ban hành hoặc chủ trì soạn thảo. Vì vậy, để hạn chế tình trạng chồng chéo trong các văn bản chỉ đạo, điều hành của các cơ quan từ Trung ương đến địa phương, đề nghị các Bộ, ngành, địa phương, trong quá trình áp dụng pháp luật, nếu phát hiện những quy định mâu thuẫn, chồng chéo, không phù hợp cần kiến nghị ngay tới cơ quan có thẩm quyền (cơ quan đã ban hành hoặc tham mưu soạn thảo, trình ban hành văn bản, cơ quan quản lý nhà nước về vấn đề mà văn bản điều chỉnh) để cơ quan này kịp thời thực hiện kiểm tra, rà soát, có giải pháp xử lý nhằm đảm bảo tính thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật.
III. LĨNH VỰC QUẢN LÝ XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH VÀ THEO DÕI THI HÀNH PHÁP LUẬT

1. Đề nghị Bộ Tư pháp sớm tham mưu Chính phủ ban hành đầy đủ các Nghị định hướng dẫn thi hành Luật Xử lý vi phạm hành chính như Nghị định về cơ sở dữ liệu xử lý vi phạm hành chính, xây dựng phần mềm dùng chung, phần mềm thống kê về công tác xử lý vi phạm hành chính, xây dựng Cơ sở Dữ liệu quốc gia về xử lý vi phạm hành chính để triển khai thực hiện thống nhất trong toàn quốc.

Trả lời:
Thực hiện Quyết định số 1473/QĐ-TTg ngày 05/10/2012 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Kế hoạch triển khai và Danh mục nghị định quy định chi tiết thi hành Luật Xử lý vi phạm hành chính, Bộ Tư pháp đã khẩn trương chủ trì, phối hợp với các cơ quan hữu quan nghiên cứu, soạn thảo Nghị định quy định Cơ sở dữ liệu quốc gia về xử lý vi phạm hành chính và trình Chính phủ vào tháng 12/2015. Ngày 30/3/2016, Chính Phủ đã ký ban hành Nghị định số 20/2016/NĐ-CP quy định Cơ sở dữ liệu quốc gia về xử lý vi phạm hành chính, theo đó, Nghị định đã có hiệu lực thi hành từ ngày 15/5/2016.
Bên cạnh đó, Bộ Tư pháp cũng đã nghiên cứu, soạn thảo Đề án xây dựng Cơ sở dữ liệu quốc gia về xử lý vi phạm hành chính và đã trình Thủ tướng Chính phủ ngày 31/10/2016. Theo lộ trình được xác định trong Đề án, nếu được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt thì trong giai đoạn 2017 - 2019, việc xây dựng phần mềm quản lý thông tin về xử lý vi phạm hành chính sẽ được triển khai tại Bộ Tư pháp, 08 Bộ, cơ quan ngang Bộ và 31 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương để sớm triển khai thực hiện thống nhất trong toàn quốc, đáp ứng yêu cầu thực tiễn trong quản lý nhà nước cũng như quản lý xã hội.
2. Đề nghị Bộ Tư pháp xây dựng Quy chế phối hợp giữa các Bộ, ngành Trung ương trong công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật để tạo sự chỉ đạo phối hợp thống nhất từ Trung ương đến địa phương.
Trả lời:
Hiện nay, Bộ Tư pháp đã và đang phối hợp với các một số Bộ, ngành, cơ quan Trung ương trong việc xây dựng Quy chế phối hợp công tác, trong đó, có các nội dung về công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật, như: Bộ Giáo dục và Đào tạo, Ủy ban Dân tộc... Trong thời gian tới, Bộ Tư pháp sẽ tiếp tục phối hợp với các Bộ, ngành, cơ quan khác để tiếp tục xây dựng Quy chế phối hợp, đảm bảo sự chỉ đạo phối hợp thống nhất từ Trung ương tới địa phương.
IV. LĨNH VỰC KIỂM SOÁT THỦ TỤC HÀNH CHÍNH

1. Đ nghị Bộ Tư pháp phối hợp và có ý kiến với các Bộ, ngành Trung ương công bố thủ tục hành chính kịp thời, đầy đ, thực hiện công bố, nhập dữ liệu trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về TTHC, gửi đầy đủ (bản giấy và file điện tử) và đăng tải trên Trang thông tin điện tử của Bộ, ngành đ địa phương dễ dàng trong việc đối chiếu, làm cơ  sở đối với việc công bố thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết[4].

Trả lời:
Việc công bố TTHC và nhập dữ liệu TTHC vào Cơ sở dữ liệu quốc gia về TTHC như đề nghị của các tỉnh vẫn đang được triển khai thực hiện theo quy định tại Thông tư 05/2014/TT-BTP ngày 07/02/2014 và Thông tư số 19/2014/TT-BTP ngày 15/9/2014 của Bộ Tư pháp.
Từ đầu năm đến nay, thông qua việc báo cáo Thủ tướng Chính phủ hàng tháng về tình hình, kết quả thực hiện công tác kiểm soát TTHC, Bộ Tư pháp thường xuyên đôn đốc các Bộ, ngành thực hiện việc công bố, nhập dữ liệu TTHC vào Cơ sở dữ liệu quốc gia về TTHC để đảm bảo yêu cầu về tính kịp thời, đầy đủ, chính xác và thống nhất của các TTHC được công bố và nhập dữ liệu giữa các Bộ, ngành Trung ương với các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Ngoài ra, Bộ cũng đã có báo cáo Thủ tướng Chính phủ về tình hình, kết quả thực hiện Quyết định số 08/QĐ-TTg (trong đó có nội dung thực hiện chuẩn hóa, công bố chuẩn hóa, công khai TTHC) và đề xuất Thủ tướng tiếp tục chỉ đạo các Bộ, ngành thực hiện nghiêm túc việc công bố TTHC và cập nhật vào Cơ sở dữ liệu quốc gia về TTHC (Báo cáo số 331/BC-BTP ngày 28/11/2016).

2. Đề nghị Bộ Tư pháp thường xuyên tổ chức các lớp tập huấn, bồi dưỡng nâng cao nghiệp vụ trong lĩnh vực Kiểm soát thủ tục hành chính cho đội ngũ công chức, viên chức và cán bộ làm đầu mối thực hiện nhiệm vụ kiểm soát thủ tục hành chính.

Trả lời:
Công tác tập huấn bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm soát thủ tục hành chính được Bộ Tư pháp thường xuyên quan tâm, thực hiện và coi là một giải pháp quan trọng nhằm nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ những người làm công tác kiểm soát thủ tục hành chính. Theo đó, hàng năm, Bộ Tư pháp đều tổ chức các lớp tập huấn nghiệp vụ kiểm soát thủ tục hành chính. Bên cạnh đó, để hướng dẫn nghiệp vụ cho các cán bộ, công chức của các Bộ, ngành địa phương, Cục Kiểm soát thủ tục hành chính – Bộ Tư pháp đã biên soạn Sổ tay hướng dẫn nghiệp vụ kiểm soát thủ tục hành chính gửi các Bộ, ngành, địa phương để làm tài liệu tham khảo trong quá trình thực hiện nhiệm vụ. Ngoài ra, các vướng mắc liên quan đến công tác kiểm soát TTHC tại địa phương đã được công chức chuyên quản kịp thời hướng dẫn và giải đáp thông qua văn bản, điện thoại trực tiếp hoặc qua thư điện tử.
V. LĨNH VỰC HỘ TỊCH, QUỐC TỊCH, CHỨNG THỰC

1. Đề nghị Bộ Tư pháp thường xuyên tổ chức các lớp tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ về lĩnh vực hộ tịch, chứng thực cho các địa phương, đặc biệt là mở các lớp đào tạo, bồi dưỡng chuyên sâu.

Trả lời:
Việc tập huấn nghiệp vụ hộ tịch được xác định là nhiệm vụ cần thực hiện thường xuyên của cơ quản lý nhà nước về hộ tịch ở cả Trung ương (Cục Hộ tịch, quốc tịch, chứng thực) và địa phương (Sở Tư pháp).
Ở Trung ương, ngoài việc phối hợp với Học viện Tư pháp tổ chức 3 lớp tập huấn triển khai Luật hộ tịch và Nghị định số 123/2015/NĐ-CP vào cuối năm 2015, xây dựng Chương trình bồi dưỡng nghiệp vụ hộ tịch, cử báo cáo viên trực tiếp tập huấn nghiệp vụ tại cơ sở theo đề nghị của một số địa phương, trong năm 2016, Cục Hộ tịch, quốc tịch, chứng thực đã tổ chức 05 lớp tập huấn chuyên sâu nghiệp vụ hộ tịch với số lượng 572 học viên là công chức làm công tác hộ tịch của Sở Tư pháp và đại diện tất cả các Phòng Tư pháp cấp huyện của 47 tỉnh thuộc 03 miền Bắc, Trung, Nam. Đồng thời phối hợp với Học viện Tư pháp tổ chức 02 lớp bồi dưỡng nghiệp vụ hộ tịch cho giảng viên, báo cáo viên, xây dựng đội ngũ “máy cái” tiếp tục công tác bồi dưỡng, tập huấn nghiệp vụ hộ tịch cho công chức làm công tác hộ tịch cấp xã (trên 160 học viên tham gia). Trong thời gian tới, Cục Hộ tịch, quốc tịch, chứng thực sẽ tiếp tục tranh thủ nguồn lực để triển khai các hoạt động bồi dưỡng nghiệp vụ hộ tịch dưới nhiều hình thức, quy mô khác nhau, bảo đảm chất lượng và hiệu quả.
Về phía các địa phương, đề nghị các Sở Tư pháp cần chủ động trong việc tham mưu Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xây dựng kế hoạch tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ, bố trí đội ngũ báo cáo viên có đủ năng lực tổ chức bồi dưỡng nghiệp vụ hộ tịch thường xuyên, phù hợp với yêu cầu của địa phương cho đội ngũ công chức làm công tác hộ tịch trên địa bàn; Cục Hộ tịch, quốc tịch, chứng thực sẽ tích cực phối hợp và hỗ trợ các địa phương.
VI. LĨNH VỰC BỒI THƯỜNG NHÀ NƯỚC

1. Đề nghị Bộ Tư pháp thường xuyên tổ chức các lớp bồi dưỡng nghiệp vụ trong lĩnh vực bồi thường nhà nước cho đội ngũ công chức, viên chức nhằm nâng cao kỹ năng và trình độ nghiệp vụ; đồng thời, kịp thời ban hành văn bản hướng dẫn nghiệp vụ để tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc từ thực tiễn địa phương trong lĩnh vực bồi thường nhà nước.

Trả lời:

a) Về tổ chức các lớp tập huấn, bồi dưỡng kỹ năng nghiệp vụ về công tác bồi thường nhà nước

Trong 6 năm qua, để bảo đảm từng bước nâng cao năng lực cho đội ngũ công chức làm công tác bồi thường, giải quyết bồi thường tại các bộ, ngành, địa phương, Bộ Tư pháp và các Bộ, ngành, địa phương đã quan tâm tổ chức các lớp tập huấn, bồi dưỡng kỹ năng, nghiệp vụ giải quyết bồi thường cho đội ngũ công chức được phân công thực hiện công tác này.
Về phía Bộ Tư pháp, Bộ đã chủ trì, tổ chức trên 50 hội nghị tập huấn văn bản và kỹ năng nghiệp vụ bồi thường cho công chức được giao thực hiện công tác bồi thường cho các Bộ, ngành và địa phương trên cả 3 miền Bắc, Trung, Nam với hơn 3.000 lượt người tham dự (năm 2014, Cục Bồi thường nhà nước đã chủ động tổ chức Hội nghị triển khai các văn bản mới và tập huấn công tác bồi thường nhà nước trong hoạt động quản lý hành chính và thi hành án dân sự trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp. Việc tổ chức hội nghị đã có sự phối hợp của Sở Tư pháp và Cục Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Tháp).
Về phía các Bộ, ngành và địa phương, mặc dù đã có sự quan tâm trong việc bồi dưỡng kỹ năng nghiệp vụ cho đội ngũ công chức làm công tác bồi thường, tuy nhiên số lượng các lớp do các Bộ, ngành, địa phương chủ động tổ chức không nhiều mà chủ yếu yếu phụ thuộc vào Bộ Tư pháp thực hiện công tác này.
Để khắc phục tình trạng này, hằng năm, Bộ Tư pháp đều có văn bản gửi  Bộ, ngành, địa phương quan tâm chỉ đạo cơ quan có nhiệm vụ tham mưu thực hiện công tác bồi thường phối hợp với các cơ quan liên quan tham mưu, đề xuất và tổ chức các lớp tập huấn, bồi dưỡng chuyên sâu cho đội ngũ công chức làm công tác bồi thường, đồng thời giữ ổn định đội ngũ công chức được giao chuyên trách hoặc kiêm nhiệm thực hiện công tác bồi thường, đáp ứng yêu cầu thực hiện nhiệm vụ của công tác bồi thường. Trong quá trình tổ chức các lớp tập huấn, bồi dưỡng, các Bộ, ngành, địa phương nếu có yêu cầu, Bộ Tư pháp sẽ phối hợp cử báo cáo viên tham gia hỗ trợ.

b) Về việc kịp thời ban hành các văn bản hướng dẫn nghiệp vụ để tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc từ thực tiễn địa phương trong lĩnh vực bồi thường nhà nước

Hướng dẫn nghiệp vụ giải quyết bồi thường trong hoạt động quản lý hành chính và thi hành án dân sự là một trong những nhiệm vụ trọng tâm, trọng điểm của Cục Bồi thường nhà nước - Bộ Tư pháp và được thực hiện thường xuyên, tích cực bằng nhiều hình thức như lồng ghép trong các văn bản hướng dẫn nghiệp vụ về quản lý hành chính, thi hành án và tố tụng; biên soạn các tài liệu phục vụ công tác tập huấn, bồi dưỡng kỹ năng nghiệp vụ giải quyết bồi thường cho đội ngũ cán bộ, công chức được phân công thực hiện quản lý nhà nước về công tác bồi thường (trong 6 năm qua, Bộ Tư pháp đã biên soạn trên 10 ấn phẩm phục vụ công tác này như: Chỉ dẫn áp dụng Luật TNBTCNN (năm 2013); Sổ tay nghiệp vụ giải quyết bồi thường trong hoạt động quản lý hành chính và thi hành án dân sự (năm 2014) và Nghiệp vụ công tác bồi thường nhà nước trong hoạt động quản lý hành chính và thi hành án dân sự (2016)...).
Đối với những khó khăn, vướng mắc từ thực tiễn áp dụng văn bản hướng dẫn trong quản lý công tác bồi thường hiện nay, trên cơ sở yêu cầu của Bộ, ngành, địa phương, Cục Bồi thường nhà nước cũng đã kịp thời nghiên cứu và có hướng dẫn cụ thể đối với từng vụ việc bằng văn bản hoặc hướng dẫn trực tiếp thông qua công tác kiểm tra về công tác bồi thường tại địa phương.
VII. LĨNH VỰC ĐÀO TẠO CÁC CHỨC DANH TƯ PHÁP VÀ BỒI DƯỠNG NGHIỆP VỤ

1. Đề nghị Bộ Tư pháp thường xuyên tổ chức các lớp bồi dưỡng nghiệp vụ trong lĩnh vực kiểm tra, rà soát văn bản quy phạm pháp luật cho đội ngũ công chức, viên chức, cán bộ làm công tác pháp chế nhằm nâng cao kỹ năng trình độ nghiệp vụ.

Trả lời:
Thực hiện kế hoạch triển khai Luật Ban hành văn bản QPPL năm 2015 và Nghị định số 34/2016/NĐ-CP ngày 14/5/2016 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Ban hành văn bản QPPL, Bộ Tư pháp đã tổ chức 04 Hội nghị tập huấn chuyên sâu về Luật và Nghị định cho các Bộ, ngành, địa phương, trong đó có nội dung tập huấn các quy định về công tác kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản QPPL (03 lớp cho cán bộ tư pháp, pháp chế 63 tỉnh, thành tại 3 miền và 01 lớp cho cán bộ pháp chế Bộ, ngành tại Hà Nội). 
 Mặt khác, hằng năm, Bộ Tư pháp (Học viện Tư pháp) đều tổ chức các lớp bồi dưỡng nghiệp vụ về công tác soạn thảo, ban hành văn bản QPPL, trong đó có công tác kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản QPPL cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức thực hiện công tác pháp chế các Bộ, ngành và địa phương. Đặc biệt, năm 2016, Bộ Tư pháp đã tổ chức 03 lớp tập huấn nghiệp vụ về công tác kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản tại 03 tỉnh đại diện cho ba miền Bắc, Trung, Nam: Hà Nội, Đà Nẵng, Cần Thơ (trong tháng 11/2016) nhằm tạo điều kiện thuận lợi để các công chức trực tiếp làm công tác kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản QPPL tại các địa phương tham dự lớp tập huấn.
Ngoài ra, Bộ Tư pháp (Cục Kiểm tra văn bản QPPL) thường xuyên cử các Báo cáo viên đến tập huấn, hướng dẫn về kỹ năng, nghiệp vụ kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản QPPL theo đề nghị của các Bộ, ngành, địa phương.

2. Đề nghị Bộ Tư pháp thường xuyên tổ chức các lớp bồi dưỡng nghiệp vụ trong lĩnh vực theo dõi tình hình thi hành pháp luật cho đội ngũ công chức, viên chức nhằm nâng cao kỹ năng trình độ nghiệp vụ cũng như nâng cao sự nhận thức về tầm quan trọng và ý nghĩa của công tác này.

Trả lời:
Năm 2015 và 2016, Bộ Tư pháp đã tổ chức tập huấn về công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật cho cán bộ làm công tác này tại một số địa phương trong cả nước, cụ thể:
- Năm 2015 tổ chức 02 Hội nghị tập huấn chuyên sâu về công tác theo dõi thi hành pháp luật tại Hà Nội (08-09/10/2015); tại Tp. Hồ Chí Minh (22-23/10/2015);
- Năm 2016 tổ chức 03 Hội nghị tập huấn chuyên sâu về công tác theo dõi thi hành pháp luật tại Điện Biên (06-07/10/2016); tại Trà Vinh (15-16/11/2016); tại Đắk Lắk (dự kiến 14-15/12/2016);
Trong năm 2017, Bộ Tư pháp dự kiến tiếp tục tổ chức các Hội nghị tập huấn chuyên sâu về công tác theo dõi thi hành pháp luật nhằm phổ biến sâu rộng hơn những quy định của pháp luật về theo dõi tình hình thi hành pháp luật, qua đó nâng cao nhận thức của công chức, viên chức về công tác này cũng như tạo điều kiện để các địa phương được trao đổi, kiến nghị trả lời nhiều vấn đề trong thực tiễn triển khai công việc. Đề nghị các địa phương xác định nhu cầu bồi dưỡng, có văn bản đề nghị Bộ để chỉ đạo xây dựng kế hoạch cho năm 2017 và những năm tiếp theo.

 


D. KIẾN NGHỊ CỦA UBND TỈNH KIÊN GIANG
I. LĨNH VỰC KIỂM SOÁT THỦ TỤC HÀNH CHÍNH

1. Đ nghị Bộ Tư pháp phối hợp và có ý kiến với các Bộ, ngành Trung ương công bố thủ tục hành chính kịp thời, đầy đ, thực hiện công bố, nhập dữ liệu trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về TTHC, gửi đầy đủ (bản giấy và file điện tử) và đăng tải trên Trang thông tin điện tử của Bộ, ngành đ địa phương dễ dàng trong việc đối chiếu, làm cơ  sở đối với việc công bố thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết[5].

Trả lời:
Việc công bố TTHC và nhập dữ liệu TTHC vào Cơ sở dữ liệu quốc gia về TTHC như đề nghị của các tỉnh vẫn đang được triển khai thực hiện theo quy định tại Thông tư 05/2014/TT-BTP ngày 07/02/2014 và Thông tư số 19/2014/TT-BTP ngày 15/9/2014 của Bộ Tư pháp.
Từ đầu năm đến nay, thông qua việc báo cáo Thủ tướng Chính phủ hàng tháng về tình hình, kết quả thực hiện công tác kiểm soát TTHC, Bộ Tư pháp thường xuyên đôn đốc các Bộ, ngành thực hiện việc công bố, nhập dữ liệu TTHC vào Cơ sở dữ liệu quốc gia về TTHC để đảm bảo yêu cầu về tính kịp thời, đầy đủ, chính xác và thống nhất của các TTHC được công bố và nhập dữ liệu giữa các Bộ, ngành Trung ương với các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Ngoài ra, Bộ cũng đã có báo cáo Thủ tướng Chính phủ về tình hình, kết quả thực hiện Quyết định số 08/QĐ-TTg (trong đó có nội dung thực hiện chuẩn hóa, công bố chuẩn hóa, công khai TTHC) và đề xuất Thủ tướng tiếp tục chỉ đạo các Bộ, ngành thực hiện nghiêm túc việc công bố TTHC và cập nhật vào Cơ sở dữ liệu quốc gia về TTHC (Báo cáo số 331/BC-BTP ngày 28/11/2016).
II. LĨNH VỰC BỔ TRỢ TƯ PHÁP

1. Đề nghị Bộ Tư pháp ban hành văn bản hướng dẫn việc giải thể hoặc chuyển nơi (trụ sở làm việc) hoạt động sang địa bàn cấp huyện khác của Phòng công chứng như: Chế độ tài chính, bộ máy, kinh phí hoạt động, chế độ chính sách... đối với công chứng viên và viên chức; sớm tổ chức sơ kết việc thực hiện Quyết định số 2104/QĐ-TTg, đồng thời xem xét, trình Thủ tướng Chính phủ điều chỉnh Quy hoạch phát triển tổ chức hành nghề công chứng của địa phương, đồng thời, tổ chức nhiều cuộc kiểm tra kết quả tập sự hành nghề công chứng nhằm tạo nguồn công chứng viên cho địa phương ở khu vực Tây Nam Bộ trong thời gian tới.

Trả lời:
 - Về việc hướng dẫn việc giải thể Phòng công chứng:
Phòng công chứng là đơn vị sự nghiệp công lập nên cùng với Luật công chứng thì việc thành lập, tổ chức, hoạt động… của Phòng công chứng còn phải theo quy định của pháp luật về đơn vị sự nghiệp. Việc giải thể đơn vị sự nghiệp công lập được quy định cụ thể tại Nghị định số 55/2012/NĐ-CP ngày 28/6/2012 quy định về thành lập, tổ chức lại, giải thể đơn vị sự nghiệp công lập. Do đó, việc giải thể Phòng công chứng sẽ được thực hiện theo quy định của Luật công chứng và Nghị định số 55/2012/NĐ-CP nêu trên. Trong quá trình thực hiện giải thể, nếu có khó khăn vướng mắc thì các địa phương kịp thời phản ánh lên Bộ Tư pháp để giải quyết, tháo gỡ.
- Về việc sơ kết và điều chỉnh Quy hoạch phát triển tổ chức hành nghề công chứng:
Ngày 08/7/2015, Bộ trưởng Bộ Tư pháp đã ký Quyết định số 1296/QĐ-BTP ban hành Kế hoạch sơ kết việc thực hiện Quyết định số 2104/QĐ-TTg ngày 29/12/2012 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt “Quy hoạch tổng thể phát triển tổ chức hành nghề công chứng đến năm 2020”. Theo đó, các địa phương tiến hành sơ kết việc thực hiện Quyết định số 2104/QĐ-TTg xong trước ngày 30/10/2015. Trong thời gian vừa qua, các địa phương trong cả nước đã tiến hành sơ kết và gửi báo cáo sơ kết việc thực hiện Quyết định số 2104/QĐ-TTg về Bộ Tư pháp. Tuy nhiên, một số địa phương gửi báo cáo sơ kết về Bộ Tư pháp chậm nên việc tổ chức sơ kết việc thực hiện Quyết định số 2104/QĐ-TTg ở Trung ương có chậm so với Kế hoạch đã đặt ra.
Nhằm tiết kiệm tối đa thời gian, công sức cho các đại biểu địa phương mà vẫn đảm bảo đánh giá được tình hình thực tế sau 4 năm triển khai Quy hoạch, Bộ Tư pháp đã tổ chức thực hiện sơ kết Quyết định số 2104/QĐ-TTg thông qua hình thức văn bản trên cơ sở báo cáo sơ kết của địa phương thay vì tổ chức Hội nghị tập trung. Hiện nay, Bộ Tư pháp đang hoàn thiện Báo cáo sơ kết việc thực hiện Quyết định số 2104/QĐ-TTg để báo cáo Thủ tướng Chính phủ. Trong đó, có 42 địa phương có đề xuất điều chỉnh Quy hoạch phát triển tổ chức hành nghề công chứng (27 đề xuất điều chỉnh Quy hoạch thuộc thẩm quyền xem xét, quyết định của Bộ trưởng Bộ Tư pháp, 15 đề xuất điều chỉnh Quy hoạch thuộc thẩm quyền của Thủ tướng Chính phủ). Đối với các đề xuất điều chỉnh Quy hoạch thuộc thẩm quyền quyết định của Bộ trưởng Bộ Tư pháp thì Bộ trưởng Bộ Tư pháp sẽ trả lời các địa phương. Đối với các đề nghị điều chỉnh Quy hoạch thuộc thẩm quyền quyết định của Thủ tướng Chính phủ thì Bộ Tư pháp sẽ báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định.
- Về việc tổ chức nhiều cuộc kiểm tra kết quả tập sự hành nghề công chứng:
Kỳ kiểm tra kết quả tập sự hành nghề công chứng lần thứ nhất đã được tổ chức thành công vào tháng 4/2016 và đã cấp Giấy chứng nhận đạt kết quả kiểm tra cho 172 thí sinh. Hiện nay, Bộ Tư pháp đang tiếp nhận hồ sơ và chuẩn bị tổ chức kỳ kiểm tra lần thứ hai vào đầu năm 2017. Trong trường hợp số lượng người đăng ký tham dự nhiều, trong năm 2017 Bộ Tư pháp sẽ tổ chức 02 kỳ kiểm tra kết quả tập sự (theo quy định của Thông tư số 04/2015/TT-BTP ngày 15/4/2015 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp hướng dẫn tập sự hành nghề công chứng thì mỗi năm tổ chức không quá 02 kỳ kiểm tra).

2. Đề nghị Bộ Tư pháp có văn bản hướng dẫn thực hiện việc chuyển đổi mô hình doanh nghiệp hoặc giải thể Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản (trường hợp không có khả năng chuyển đổi thành doanh nghiệp) và có các biện pháp hỗ trợ khi Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá chuyển đổi hoặc giải thể.

Trả lời:
Liên quan đến việc chuyển đổi Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản sang mô hình doanh nghiệp hoặc giải thể Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản, xuất phát từ vị trí, vai trò của Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản trong việc bán đấu giá tài sản, nhất là tại các địa phương chưa có doanh nghiệp đấu giá tài sản và đảm bảo phù hợp với tình hình thực tiễn hoạt động đấu giá tài sản tại địa phương, Luật đấu giá tài sản được Quốc hội khóa XIV thông qua tại kỳ họp thứ 2 ngày 17/11/2016 đã quy định Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xem xét, phê duyệt đề án thực hiện cơ chế tự chủ đối với Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản, đề án chuyển đổi Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản thành doanh nghiệp trong trường hợp không cần thiết duy trì Trung tâm, đề án giải thể Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản trong trường hợp không có khả năng chuyển đổi Trung tâm thành doanh nghiệp sau khi có ý kiến thống nhất của Bộ Tư pháp.
Như vậy, theo quy định của Luật đấu giá tài sản thì các địa phương căn cứ vào tình hình thực tiễn về tổ chức và hoạt động đấu giá tài sản tại địa phương mình để xem xét, xây dựng đề án thực hiện cơ chế tự chủ đối với Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản, đề án chuyển đổi Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản thành doanh nghiệp hoặc đề án giải thể Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản trên cơ sở đảm bảo tính ổn định, liên tục của hoạt động đấu giá, tránh gây ách tắc trong việc xử lý tài sản, nhất là các tài sản để đảm bảo thi hành các bản án, quyết định của Tòa án tại địa phương.

3. Đề nghị Bộ Tư pháp sớm xem xét, phê duyệt Đề án thực hiện chế định Thừa phát lại tại địa phương.

Trả lời:
Theo quy định tại Mục 4 Phần II Kế hoạch triển khai Nghị quyết số 107/2015/QH13 của Quốc hội về thực hiện chế định Thừa phát lại được ban hành theo Quyết định số 101/QĐ-TTg ngày 14/01/2016 của Thủ tướng Chính phủ thì Bộ Tư pháp có thẩm quyền xem xét, phê duyệt Đề án thực hiện chế định Thừa phát lại tại các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương sau khi thống nhất ý kiến với Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
Thực hiện quy định trên, hiện nay, Bộ Tư pháp đã gửi dự thảo Đề án thực hiện chế định Thừa phát lại của các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương để lấy ý kiến của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Trên cơ sở ý kiến của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp đang xem xét việc phê duyệt Đề án theo quy định của pháp luật.
III. LĨNH VỰC BỒI THƯỜNG NHÀ NƯỚC

1. Đề nghị Bộ Tư pháp: (i) Ban hành Quy chế phối hợp giữa các ngành, các cấp trong việc quản lý nhà nước về công tác bồi thường và giải quyết bồi thường, đảm bảo khi có vụ việc yêu cầu bồi thường các ngành, các cấp có trách nhiệm giải quyết một cách nhanh chóng, thấu đáo và đúng quy định; (ii) Xây dựng tiêu chuẩn công chức làm công tác bồi thường, để thực hiện thống nhất việc tuyển dụng và thực hiện công việc đạt hiệu quả đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ đặt ra; (iii) Hướng dẫn lập dự toán ngân sách hằng năm và bố trí kinh phí đảm bảo thực hiện công tác bồi thường ở địa phương (đối với địa phương chưa có vụ việc xảy ra) cũng như công tác quản lý, sử dụng, quyết toán kinh phí… .

Trả lời:

a) Về ban hành Quy chế phối hợp giữa các ngành, các cấp trong việc quản lý nhà nước về công tác bồi thường và giải quyết bồi thường

Theo quy định của Luật TNBTCNN hiện hành thì Bộ Tư pháp không có thẩm quyền ban hành Quy chế phối hợp giữa các ngành, các cấp trong việc quản lý nhà nước về công tác bồi thường và giải quyết bồi thường. Vì vậy, để chủ động trong công tác này, Bộ Tư pháp đề nghị các địa phương trên cơ sở quy định của Luật, Nghị định và các văn bản hướng dẫn về nhiệm vụ, trách nhiệm của các cơ quan trong thực hiện công tác bồi thường để xác định nội dung, cách thức phối hợp cho phù hợp với nhu cầu thực tiễn của địa phương.

b) Xây dựng tiêu chuẩn công chức làm công tác bồi thường, để thực hiện thống nhất việc tuyển dụng và thực hiện công việc đạt hiệu quả đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ đặt ra

Hiện nay, việc tuyển dụng công chức trong các cơ quan nhà nước nói chung được áp dụng theo quy định của Luật cán bộ, công chức trên cơ sở kết hợp giữa tiêu chuẩn chức danh, vị trí việc làm và chỉ tiêu biên chế theo nguyên tắc tập trung dân chủ, chế độ trách nhiệm cá nhân và phân công, phân cấp rõ ràng. Đối với công chức trong Ngành Tư pháp, bên cạnh việc thực hiện theo quy định của Luật cán bộ, công chức, Bộ trưởng Bộ Tư pháp cũng ban hành Quyết định số 483/TCCB-QĐ ngày 26/7/1993 quy định tiêu chuẩn nghiệp vụ của ngạch công chức hành chính trong Ngành Tư pháp. Do đó, công chức làm công tác bồi thường là chức danh chuyên môn thuộc hệ thống tư pháp nên việc thực hiện tuyển dụng cũng được áp dụng theo tiêu chuẩn công chức được quy định trong các văn bản nói trên.
Trong thời gian tới, trên cơ sở quy định của pháp luật có liên quan cũng như xuất phát từ yêu cầu thực tiễn, Bộ Tư pháp sẽ phối hợp với Bộ Nội vụ nghiên cứu, xây dựng hệ thống tiêu chuẩn công chức làm công tác bồi thường nhằm bảo đảm thực hiện thống nhất việc tuyển dụng cũng như phù hợp với quá trình triển khai nhiệm vụ về công tác bồi thường trong thực tiễn.

c) Hướng dẫn lập dự toán ngân sách hằng năm và bố trí kinh phí đảm bảo thực hiện công tác bồi thường ở địa phương (đối với địa phương chưa có vụ việc xảy ra) cũng như công tác quản lý, sử dụng, quyết toán kinh phí...

Thông tư liên tịch số 71/2012/TTLT-BTC-BTP ngày 09/05/2012 của Bộ Tài chính, Bộ Tư pháp đã quy định rất cụ thể, rõ ràng việc lập dự toán, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí thực hiện trách nhiệm bồi thường của nhà nước. Theo đó, hàng năm, căn cứ thực tế bồi thường năm trước, Bộ Tài chính phối hợp với các Bộ, ngành Trung ương lập dự toán, tổng hợp dự toán kinh phí bồi thường của cơ quan Trung ương trình Chính phủ, trình Quốc hội xem xét quyết định trong dự toán ngân sách Trung ương; Sở Tài chính phối hợp với Sở, ban, ngành địa phương lập dự toán kinh phí bồi thường và tổng hợp trong dự toán ngân sách địa phương trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh để trình Hội đồng nhân dân cùng cấp xem xét quyết định.
Trên cơ sở hướng dẫn của Thông tư liên tịch số 71/2012/TTLT-BTC-BTP, các địa phương có thể căn cứ để đề xuất, lập dự toán, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí thực hiện trách nhiệm bồi thường của Nhà nước. Đối với những địa phương chưa có vụ việc xảy ra cũng căn cứ theo hướng dẫn của Thông tư liên tịch số 71/2012/TTLT-BTC-BTP để đề xuất lập dự toán dự phòng hằng năm phục vụ cho công tác thực hiện trách nhiệm bồi thường của Nhà nước.
IV. LĨNH VỰC CON NUÔI

1. Đề nghị Bộ Tư pháp cần kịp thời ban hành các văn bản hướng dẫn việc nuôi con nuôi rõ ràng, cụ thể hơn cũng như trả lời các vướng mắc thực tế phát sinh ở địa phương để có hướng giải quyết nhu cầu cho người dân. Đồng thời, ban hành văn bản quy định liên tịch về việc phối hợp giữa các ngành, các cấp trong việc giải quyết nuôi con nuôi .

 Trả lời:
a) Về việc ban hành văn bản hướng dẫn việc nuôi con nuôi rõ ràng, cụ thể hơn
Mặc dù hệ thống pháp luật về nuôi con nuôi hiện nay đã tương đối đầy đủ, nhưng qua Hội nghị đánh giá kết quả 05 thực hiện Luật nuôi con nuôi và Nghị định số 19/2011/NĐ-CP được Bộ Tư pháp tổ chức trong tháng 11/2016 vừa qua cho thấy, một số quy định pháp luật về nuôi con nuôi còn chưa rõ ràng. Trong thời gian tới, Bộ Tư pháp sẽ tiếp tục nghiên cứu, đề xuất xây dựng văn bản hướng dẫn.
b) Về việc trả lời vướng mắc phát sinh ở địa phương
  Trong thời gian vừa qua, khi nhận được kiến nghị của các địa phương hoặc trong công tác quản lý nhà nước nếu phát hiện thấy có vướng mắc phát sinh trong công tác đăng ký nuôi con nuôi, Bộ Tư pháp đã kịp thời xây dựng văn bản hướng dẫn nghiệp vụ. Đối với tỉnh Kiên Giang, kể từ khi Luật nuôi con nuôi có hiệu lực đến nay, Cục Con nuôi luôn phối hợp chặt chẽ với Sở Tư pháp tỉnh Kiên Giang, có hướng dẫn kịp thời để bảo đảm công tác giải quyết việc nuôi con nuôi trong nước và nước ngoài thực hiện theo đúng quy định pháp luật.
c) Về việc ban hành văn bản quy định phối hợp liên tịch trong việc giải quyết nuôi con nuôi 
 Ngày 18/2/2014, Bộ trưởng Bộ Tư pháp đã ký Quyết định số 376/QĐ-BTP ban hành Quy chế mẫu về việc phối hợp liên ngành tại địa phương về giải quyết việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài. Căn cứ vào Quy chế mẫu này, Sở Tư pháp các tỉnh đã chủ trì, phối hợp với các cơ quan, ban ngành hữu quan tại địa phương xây dựng và trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành Quy chế phối hợp liên ngành về giải quyết việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài. Đối với tỉnh Kiên Giang, ngày 25/6/2014, Ủy ban nhân dân tỉnh Kiên Giang đã ký Quyết định số 1380/QĐ-UBND ban hành Quy chế phối hợp liên ngành trên địa bàn tỉnh Kiên Giang làm cơ sở cho công tác phối hợp giữa các cơ quan liên quan ở địa phương trong công tác giải quyết việc nuôi con nuôi nước ngoài.
Để tăng cường hơn nữa hiệu quả thi hành Luật Nuôi con nuôi, Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em và tăng cường sự phối hợp giữa Bộ Tư pháp và Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, ngày 14/3/2016, Bộ trưởng của hai Bộ đã ký Quy chế số 721/QC-BTP-BLĐTBXH về phối hợp công tác giải quyết việc nuôi con nuôi đối với trẻ em đang được chăm sóc, nuôi dưỡng tại các cơ sở trợ giúp xã hội. Quy chế phối hợp này làm cơ sở để các cơ quan Tư pháp và cơ quan LĐTBXH ở địa phương có thể phối hợp trong công tác giải quyết việc nuôi con nuôi đối với trẻ em đang sống ở cơ sở trợ giúp xã hội, không phân biệt cơ sở trợ giúp xã hội công lập và ngoài công lập.
V. LĨNH VỰC LÝ LỊCH TƯ PHÁP

1. Đề nghị Bộ Tư pháp sớm tham mưu, trình Quốc Hội thông qua dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Lý lịch tư pháp để khắc phục những vướng mắc trong thực tiễn thực hiện lĩnh vực này.

 Trả lời:
Ngày 23/9/2016, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 1840/QĐ-TTg phân công cơ quan chủ trì soạn thảo và thời gian trình các dự án Luật, Pháp lệnh trong Chương trình xây dựng Luật, Pháp lệnh năm 2017, theo đó Bộ Tư pháp được Thủ tướng Chính phủ giao chủ trì soạn thảo dự án Luật Lý lịch tư pháp (sửa đổi), dự kiến thời hạn trình Chính phủ tháng 6/2017 và trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội tháng 8/2017.
Hiện nay Bộ Tư pháp đang phối hợp với các Bộ, ngành, cơ quan, đơn vị có liên quan xây dựng đề cương chi tiết dự án Luật, trong đó đặc biệt quan tâm tới việc sửa đổi những quy định về đối tượng, phạm vi quản lý lý lịch tư pháp; cải cách trình tự, thủ tục cấp Phiếu ý lịch tư pháp; chuyển đổi mô hình cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp như hiện nay sang mô hình cơ sở dữ liệu tập trung, thống nhất; nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác xây dựng cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp và quản lý lý lịch tư pháp trong tình hình mới.

 


E. KIẾN NGHỊ CỦA UBND TỈNH SÓC TRĂNG
 I. LĨNH VỰC XÂY DỰNG, THẨM ĐỊNH VĂN BẢN QUY PHẠM  PHÁP LUẬT VÀ CÔNG TÁC PHÁP CHẾ

1. Đề nghị Bộ Tư pháp sớm tham mưu Chính phủ ban hành Nghị định sửa đổi, bổ sung Nghị định số 55/2011/NĐ-CP cho phù hợp với các quy định của pháp luật hiện hành và tình hình thực tiễn của các địa phương. Theo đó, tham mưu Chính phủ chỉ đạo các Bộ: Nội vụ, Tài chính xây dựng Thông tư quy định về tổ chức, bộ máy, biên chế của tổ chức pháp chế, quy định về chế độ phụ cấp ưu đãi cho những người làm công tác pháp chế, đặc biệt là cán bộ làm công tác pháp chế của các cơ quan chuyên môn thuộc tỉnh và người quản lý công tác pháp chế tại Bộ Tư pháp, Sở Tư pháp. Trước mắt, kiến nghị Bộ Tư pháp, Bộ Nội vụ xem xét việc bổ sung biên chế pháp chế cho các địa phương để thực hiện thành lập Phòng Pháp chế của các cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh, tạo điều kiện thuận lợi cho tỉnh trong việc thực hiện quy định của Nghị định số 55/2011/NĐ-CP ngày 04/7/2011 của Chính phủ.

Trả lời:
Thứ nhất, về việc tham mưu cho Chính phủ ban hành Nghị định sửa đổi, bổ sung Nghị định số 55/2011/NĐ-CP cho phù hợp với các quy định của pháp luật hiện hành và tình hình thực tiễn của các địa phương.
Thực hiện Công văn số 5592/VPCP-TCCV ngày 17/7/2015 của Văn phòng Chính phủ về việc thông báo ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, trong đó giao Bộ Tư pháp chủ trì, nghiên cứu để đề xuất sửa đổi Nghị định số 55/2011/NĐ-CP, Bộ Tư pháp đã phối hợp với các Bộ, ngành, địa phương xây dựng kế hoạch, tiến hành khảo sát, đánh giá việc thực hiện Nghị định số 55/2011/NĐ-CP. Hiện nay, trên cơ sở tổng hợp báo cáo, kiến nghị của các Bộ, ngành, địa phương, doanh nghiệp, Bộ Tư pháp đang tiến hành xây dựng Báo cáo đánh giá 05 năm việc thực hiện Nghị định, qua đó, sẽ kiến nghị với Chính phủ việc sửa đổi, bổ sung Nghị định số 55/2011/NĐ-CP cho phù hợp với các quy định của pháp luật hiện hành và tình hình thực tiễn của các địa phương.
Thứ hai, về việc xây dựng thông tư quy định về tổ chức, bộ máy, biên chế của tổ chức pháp chế
Trong thời gian qua, thực hiện các quy định của Nghị định số 55/2011/NĐ-CP, một số văn bản quy phạm pháp luật và các văn bản của Chính phủ đã quy định tương đối rõ về tổ chức, bộ máy và biên chế của tổ chức pháp chế. Chẳng hạn như: (1) Thông tư liên tịch số 23/2014/TTLT-BTP-BNV ngày 22/12/2014 giữa Bộ Tư pháp và Bộ Nội vụ hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Sở Tư pháp thuộc UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và Phòng Tư pháp thuộc UBND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh; (2) Kế hoạch số 1141-KH/BCSĐCP ngày 11/11/2016 của Ban Cán sự Đảng Chính phủ về việc thực hiện Kết luận số 01-KL/TW; (3) Công văn số 5592/VPCP-TCCV ngày 17/7/2015 của Văn phòng Chính phủ thông báo ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ về tổ chức và hoạt động của Phòng Pháp chế tại cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh.
Theo đó, các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tập trung thực hiện những nhiệm vụ nhằm tăng cường năng lực, bảo đảm hoạt động của các thiết chế xây dựng và thi hành pháp luật; tiếp tục rà soát kiện toàn cơ quan, tổ chức làm công tác xây dựng pháp luật, pháp chế, thi hành pháp luật ở Bộ, ban, ngành, chính quyền địa phương các cấp. Đồng thời, tiếp tục duy trì tổ chức pháp chế ở các Bộ, ngành, địa phương; căn cứ tình hình cụ thể của mỗi Bộ, ngành, địa phương để sắp xếp, bố trí, ổn định đội ngũ cán bộ bảo đảm đủ về số lượng, có trình độ, chất lượng phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ công việc. Vì vậy, mặc dù chưa ban hành Thông tư hướng dẫn về tổ chức, bộ máy, biên chế, Bộ Tư pháp đề nghị các Bộ, ngành, địa phương thực hiện đúng các văn bản nêu trên để tiếp tục thực hiện có hiệu quả Nghị định số 55/2011/NĐ-CP.
Thứ ba, về việc tham mưu Chính phủ quy định về chế độ phụ cấp ưu đãi cho những người làm công tác pháp chế, đặc biệt là cán bộ làm công tác pháp chế của các cơ quan chuyên môn thuộc tỉnh và người quản lý công tác pháp chế tại Bộ Tư pháp, Sở Tư pháp.
Ngay sau khi Nghị định số 55/2011/NĐ-CP được ban hành và có hiệu lực, Bộ Tư pháp đã chủ động phối hợp với các Bộ, ngành có liên quan xây dựng và ban hành Kế hoạch triển khai thi hành (Quyết định số 1477/QĐ-BTP ngày 23/8/2011 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp), theo đó, Bộ Tư pháp đã chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính, Bộ Nội vụ nghiên cứu, xây dựng dự thảo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ quy định chế độ phụ cấp theo nghề đối với người làm công tác pháp chế.
Trên cơ sở ý kiến thống nhất của đa số các Bộ, ngành, ngày 06/12/2011, Bộ Tư pháp đã trình Thủ tướng Chính phủ dự thảo Quyết định về chế độ phụ cấp ưu đãi theo nghề đối với người làm công tác pháp chế (Tờ trình số 42/TTr-BTP), sau đó, tại các Phiên họp của Chính phủ về xây dựng pháp luật, Bộ Tư pháp đã nhiều lần kiến nghị về vấn đề này. Thực hiện Kết luận số 63-KL/TW ngày 27/5/2013 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về cải cách chính sách tiền lương, bảo hiểm xã hội, trợ cấp ưu đãi người có công và định hướng cải cách đến năm 2020, Chính phủ đã chỉ đạo nghiên cứu về chế độ phụ cấp - trong đó có chế độ phụ cấp ưu đãi theo nghề sẽ được xử lý trong Đề án cải cách tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang và người lao động trong các doanh nghiệp.
Thứ tư, về việc xem xét việc bổ sung biên chế pháp chế cho các tỉnh để thực hiện thành lập Phòng Pháp chế của các cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh, tạo điều kiện thuận lợi cho tỉnh trong việc thực hiện quy định của Nghị định số 55/2011/NĐ-CP ngày 04/7/2011 của Chính phủ.
Trong những năm gần đây, Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm đến biên chế, tinh giản biên chế trong bộ máy nhà nước, theo đó, đã ban hành nhiều ban hành nhiều văn bản về vấn đề này như: Kết luận số 64-KL/TW ngày 28/5/2013 của Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khóa XI về tiếp tục đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị từ Trung ương đến cơ sở; Nghị quyết số 39-NQ/TW ngày 17/4/2015 của Bộ Chính trị về tinh giản biên chế và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; Nghị quyết số 53/2013/QH13 ngày 11/11/2013 của Quốc hội về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2014. Theo tinh thần các văn bản nêu trên thì từ nay đến năm 2016, về cơ bản giữ ổn định cơ cấu tổ chức Chính phủ và tổ chức cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh, cấp huyện và tiếp tục thực hiện chủ trương tinh giản biên chế, từ nay đến năm 2016 cơ bản không tăng tổng biên chế của cả hệ thống chính trị (trừ trường hợp lập thêm tổ chức hoặc được giao nhiệm vụ mới).
Thực hiện chủ trương nêu trên, Bộ Tư pháp đã tiến hành tổng rà soát về công tác tổ chức, cán bộ; thực hiện Đề án vị trí việc làm, tinh giản biên chế để có đề xuất, kiến nghị với Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ về tổ chức, biên chế cho phù hợp thực tế hiện nay, trong đó có biên chế, công chức làm công tác pháp chế.
Đối với công tác pháp chế ở các địa phương, trước hết cần phải được thực hiện đúng quy định của Nghị định số 55/2011/NĐ-CP và các văn bản khác liên quan đến công tác này. Để bố trí biên chế cho tổ chức pháp chế tại các cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh, đề nghị UBND tỉnh quan tâm tạo điều kiện để bố trí, sắp xếp biên chế làm công tác pháp chế tại các cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh trong tổng số biên chế được giao.
II. LĨNH VỰC HỘ TỊCH, QUỐC TỊCH, CHỨNG THỰC

1. Đề nghị Bộ Tư pháp hướng dẫn cho các địa phương trong việc đăng ký hộ tịch đối với các trường hợp người Việt Nam sinh sống tại Campuchia về định cư tại Việt Nam, không có các giấy tờ về nhân thân và không đủ các tiêu chuẩn để cấp giấy tờ theo quy định của Luật Hộ tịch.

Trả lời:
Thực hiện ý kiến chỉ đạo của Phó Thủ tướng Chính phủ Vũ Văn Ninh (Văn bản số 390/TB-VPCP ngày 30/10/2013 của Văn phòng Chính phủ), Bộ Tư pháp đã xây dựng Tiểu Đề án giải quyết các vấn đề về quốc tịch, hộ khẩu, hộ tịch và các loại giấy tờ tùy thân khác cho người dân di cư tự do về nước, gửi Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội để trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.
Ngày 29/9/2014, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 1748/QĐ-TTg phê duyệt “Đề án tổng thể đối với người dân di cư tự do từ Campuchia về Việt Nam”. Tại Quyết định này, Thủ tướng Chính phủ đã giao Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan Trung ương liên quan hướng dẫn Ủy ban nhân dân các tỉnh thực hiện Tiểu Đề án 2 “Giải quyết các vấn đề về quốc tịch, hộ tịch, hộ khẩu và các giấy tờ tùy thân khác cho người di cư tự do từ Campuchia về nước”.
Theo Tiểu Đề án này thì đối tượng được giải quyết là những người di cư tự do từ Campuchia về nước thuộc 10 tỉnh có đường biên giới giáp với Campuchia (An Giang, Đồng Tháp, Long An, Kiên Giang, Tây Ninh, Bình Phước, Đắk Nông, Đắk Lắk, Gia Lai, Kon Tum) và tỉnh Đồng Nai. Do vậy, đối với những trường hợp Ủy ban nhân dân tỉnh Sóc Trăng nêu không thuộc đối tượng giải quyết theo Tiểu Đề án này. Tuy nhiên, Ủy ban nhân dân tỉnh Sóc Trăng cần chỉ đạo các Sở, ban, ngành có liên quan tiến hành rà soát, phân loại đối tượng hiện đang sinh sống trên địa bàn tỉnh báo cáo Bộ Tư pháp để Bộ Tư pháp trình Thủ tướng Chính phủ cho ý kiến chỉ đạo.
III. LĨNH VỰC ĐĂNG KÝ GIAO DỊCH BẢO ĐẢM

1. Đề nghị Bộ Tư pháp kiến nghị Chính phủ sửa đổi, bổ sung Nghị định quy định về đăng ký giao dịch bảo đảm và xử lý tài sản bảo đảm phù hợp với các quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015; đồng thời xây dựng và quản lý hệ thống dữ liệu quốc gia về giao dịch bảo đảm theo quy định tại khoản 4 Điều 5 và điểm e, khoản 2 Điều 46 Nghị định số 83/2010/NĐ-CP.

Trả lời:
1. Về đề nghị  Bộ Tư pháp kiến nghị Chính phủ sửa đổi, bổ sung Nghị định quy định về đăng ký giao dịch bảo đảm và xử lý tài sản bảo đảm phù hợp với các quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015
Theo Chương trình công tác của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ năm 2016, Quyết định số 243/QĐ-TTg ngày 05/02/2016 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Bộ luật dân sự thì Bộ Tư pháp được giao chủ trì nghiên cứu xây dựng dự thảo Nghị định quy định các biện pháp thi hành Bộ luật dân sự về giao dịch bảo đảm (thay thế Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm và Nghị định số 11/2012/NĐ-CP ngày 22/02/2012 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 163/2006/NĐ-CP)dự thảo Nghị định về đăng ký biện pháp bảo đảm (thay thế Nghị định số 83/2010/NĐ-CP ngày 23/7/2010 của Chính phủ về đăng ký giao dịch bảo đảm).
Thực hiện nhiệm vụ nêu trên, Bộ Tư đã triển khai nhiều hoạt động như: tổng kết thực tiễn thi hành Nghị định, thành lập Ban soạn thảo, Tổ biên tập, xây dựng dự thảo, tổ chức tọa đàm, họp để góp ý và chỉnh lý dự thảo. Đến thời điểm hiện nay, hai dự thảo Nghị định nêu trên đã được gửi xin ý kiến các Bộ, ngành, đơn vị có liên quan, dự kiến trình Chính phủ trong tháng 02/2017. Do đó, kiến nghị nêu trên của UBND tỉnh Sóc Trăng đối với công tác chỉ đạo, điều hành của Bộ Tư pháp đã và đang được Bộ tích cực và chủ động triển khai, thực hiện.
2. Về đề nghị Bộ Tư pháp xây dựng và quản lý hệ thống dữ liệu quốc gia về giao dịch bảo đảm theo quy định tại điểm e khoản 2 Điều 46 Nghị định số 83/2010/NĐ-CP
Theo quy định tại điểm e khoản 2 Điều 46 Nghị định số 83/2010/NĐ-CP ngày 23 tháng 10 năm 2010 về đăng ký giao dịch bảo đảm thì Bộ Tư pháp “Chủ trì, phối hợp với các Bộ có liên quan ban hành, quản lý và hướng dẫn việc sử dụng các mẫu đơn, giấy tờ, sổ đăng ký, tổ chức quản lý Hệ thống dữ liệu quốc gia về giao dịch bảo đảm”. Thực hiện nhiệm vụ nêu trên, trong các năm 2013 và 2014,  Bộ Tư pháp đã xây dựng và trình Thủ tướng Chính phủ Đề án tích hợp, quản lý, vận hành hệ thống dữ liệu quốc gia về giao dịch bảo đảm (tháng 7 năm 2014). Tuy nhiên, do tính chất mới, phức tạp về nội dung, sự phân tán, dàn trải về chức năng quản lý nhà nước và thực hiện đăng ký giao dịch bảo đảm, sự chưa đồng bộ trong việc ứng dụng công nghệ thông tin trong việc xây dựng, tích hợp hệ thống cơ sở dữ liệu về giao dịch bảo đảm nên trong thời gian trước mắt, Thủ tướng Chính phủ chưa phê duyệt Đề án nêu trên.
Do đó, đối với kiến nghị của UBND tỉnh Sóc Trăng, trong quá trình xây dựng dự thảo Nghị định về đăng ký biện pháp bảo đảm, trong thời gian tới, Bộ Tư pháp sẽ tiếp tục nghiên cứu, đánh giá tính khả thi của Đề án và  xin ý kiến các Bộ, ngành liên quan về vấn đề nêu trên. Trên cơ sở có sự đồng thuận của các Bộ, ngành, sự hoàn thiện hơn nữa về thể chế, về các định hướng chính sách lớn liên quan đến việc đăng ký tài sản nói chung, đăng ký giao dịch bảo đảm nói riêng, Bộ sẽ xây dựng các giải pháp phù hợp, tiết kiệm, hiệu quả liên quan đến việc xây dựng một cơ sở dữ liệu chung, thống nhất, có sự tích hợp các cơ sở dữ liệu chuyên ngành đăng ký giao dịch bảo đảm theo loại hình tài sản như hiện nay. Việc có được một cơ sở dữ liệu quốc gia về  các giao dịch về tài sản, về đăng ký biện pháp bảo đảm như trên sẽ  góp phần nâng cao hơn nữa hiệu quả và hiệu lực trong công tác quản lý nhà nước về đăng ký tài sản nói chung, đăng ký giao dịch bảo đảm nói riêng; đáp ứng tốt hơn, thực chất hơn mục tiêu công khai hóa, minh bạch, dễ tiếp cận các thông tin về tình trạng pháp lý của tài sản, về các giao dịch dân sự liên quan đến tài sản, đến đăng ký biện pháp bảo đảm.

 


F. KIẾN NGHỊ CỦA UBND TỈNH TIỀN GIANG
I. LĨNH VỰC QUẢN LÝ XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH VÀ THEO DÕI THI HÀNH PHÁP LUẬT

1. Hiện nay, việc thực hiện Luật Xử lý vi phạm hành chính đối với các quy định về áp dụng các biện pháp xử lý hành chính gặp rất nhiều khó khăn, vướng mắc, do các quy định của Luật này về các biện pháp xử lý hành chính (như các biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn, đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc...) chưa phù hợp với thực tiễn, ảnh hưởng lớn đến tình hình an ninh, trật tự an toàn xã hội và làm cho tình hình tội phạm diễn biến hết sức phức tạp, ngày càng có chiều hướng gia tăng. Do đó, UBND tỉnh Tiền Giang đề nghị Bộ Tư pháp trình Chính phủ đề xuất Quốc hội đưa vào Chương trình xây dựng Luật, Pháp lệnh năm 2017 việc xây dựng Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, đặc biệt là các quy định về biện pháp xử lý hành chính, để vừa đảm bảo thực hiện tốt quyền con người, quyền công dân theo quy định của Hiến pháp, vừa đáp ứng yêu cầu đảm bảo trật tự an toàn xã hội, phòng, chống vi phạm pháp luật và tội phạm trong giai đoạn hiện nay.

Trả lời:
Luật Xử lý vi phạm hành chính (XLVPHC) có hiệu lực thi hành từ ngày 01/07/2013, riêng các quy định liên quan đến việc áp dụng các biện pháp xử lý hành chính do Tòa án nhân dân xem xét, quyết định như: biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc có hiệu lực từ ngày 01/01/2014. Tính đến thời điểm hiện nay, Luật XLVPHC mới có hiệu lực thi hành hơn 03 năm đối với các quy định về xử phạt vi phạm hành chính và hơn 02 năm đối với quy định về áp dụng các biện pháp xử lý hành chính do Tòa án nhân dân xem xét, quyết định. Bộ Tư pháp (Cục QLXLVPHC&TDTHPL) đã, đang và sẽ tập hợp các vấn đề vướng mắc phát sinh trong quá trình triển khai thi hành Luật XLVPHC, dự kiến năm 2017, Bộ Tư pháp (Cục QLXLVPHC&TDTHPL) sẽ tiến hành sơ kết việc thực hiện Luật XLVPHC. Trên cơ sở đó, đề xuất với Chính phủ để báo cáo Quốc hội xem xét, quyết định sửa đổi, bổ sung Luật Xử lý vi phạm hành chính vào năm 2018.
II. LĨNH VỰC BỔ TRỢ TƯ PHÁP

1. Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, trong đó có quy định “Hoàn thiện chế định giám định tư pháp. Nhà nước cần đầu tư cho một số lĩnh vực giám định để đáp ứng yêu cầu thường xuyên của hoạt động tố tụng. Thực hiện xã hội hóa đối với các lĩnh vực có nhu cầu giám định không lớn, không thường xuyên”
Để thể chế hóa tinh thần Nghị quyết số 49-NQ/TW, Quốc hội (khóa XIII) đã ban hành Luật Giám định tư pháp năm 2012 nhằm cụ thể hóa chủ trương xã hội hóa hoạt động giám định tư pháp. Tại Điều 14 Luật Giám định tư pháp quy định cho phép thành lập Văn phòng giám định tư pháp là tổ chức giám định tư pháp ngoài công lập trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng, xây dựng, cổ vật, di vật, bản quyền tác giả. Trong khi, chi phí để đầu tư thành lập Văn phòng giám định phải tốn nhiều tiền (mua sắm các trang thiết bị phục vụ cho việc giám định) nhưng nhu cầu giám định của tổ chức và cá nhân trên địa bàn tỉnh Tiền Giang nói riêng và cả nước nói chung đối với lĩnh vực giám định tư pháp cho chủ trương thực hiện xã hội hóa không nhiều, không thường xuyên nên vẫn chưa thu hút được sự quan tâm, đầu tư của giới chuyên môn.
Do vậy, UBND tỉnh Tiền Giang đề nghị Bộ Tư pháp trình Ban Cán sự Đảng Chính phủ đề xuất Bộ Chính trị xem xét điều chỉnh chủ trương quy định tại Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 có nêu: “Thực hiện xã hội hóa đối với các lĩnh vực có nhu cầu giám định không lớn, không thường xuyên” cho phù hợp với tình hình thực tiễn của từng địa phương và của cả nước.

Trả lời:
Trong quá trình xây dựng Luật giám định tư pháp, Bộ Tư pháp và một số Bộ, ngành có liên quan đã nhận thấy: việc bó hẹp phạm vi xã hội hóa giám định tư pháp chỉ đối với một số lĩnh vực có nhu cầu giám định không lớn, không thường xuyên như nội dung hiện nay của Nghị quyết 49 NQ/TW thì rất khó thu hút tổ chức, cá nhân tham gia xã hội hóa hoạt động giám định. Vì vậy, trong quá trình tổng kết tình hình thực hiện cải cách tư pháp đề xuất ở giai đoạn tiếp theo, Ban Cán sự Đảng Bộ Tư pháp đã có đề nghị các cơ quan có thẩm quyền nghiên cứu nội dung của Nghị quyết 49 đối với việc xã hội hóa giám định tư pháp, theo đó, cần mở rộng phạm vi xã hội hóa hoạt động giám định tư pháp đối với tất cả các lĩnh vực giám định, kể cả lĩnh vực có nhu cầu giám định lớn, thường xuyên để có thể xã hội hóa mạnh mẽ hơn nữa hoạt động giám định tư pháp trong thời gian tới, chỉ trừ những chuyên ngành liên quan đến bí mật nhà nước. Trong đó, cần có hình thức, mức độ xã hội hóa phù hợp với tính chất, đặc thù của từng lĩnh vực, chuyên ngành giám định với từng bước đi, lộ trình hợp lý. Đối với những lĩnh vực giám định mà Nhà nước cần phải bảo đảm, đầu tư (pháp y, pháp y tâm thần, kỹ thuật hình sự) thì cũng cần xã hội hóa một số chuyên ngành trong lĩnh vực kỹ thuật hình sự thông qua việc cho phép thành lập Văn phòng giám định tư pháp ở một số chuyên ngành như dấu vết tài liệu... và đẩy mạnh cung cấp dịch vụ giám định cho các đương sự trong các vụ án cũng như các tổ chức, cá nhân khác; chuyển giao một số loại việc giám định pháp y trên người sống, pháp y tâm thần đơn giản cho tổ chức, cá nhân chuyên môn có đủ điều kiện thực hiện để huy động nguồn lực của xã hội cho hoạt động ở một số chuyên ngành của các lĩnh vực giám định tư pháp đó. Còn các lĩnh vực giám định có nhu cầu không thường xuyên thì cần có sự huy động mạnh mẽ hơn nữa các cơ quan, tổ chức chuyên môn tham gia vào hoạt động giám định thông qua các chính sách thu hút, chi trả chi phí giám định đầy đủ, kịp thời cho các tổ chức, cá nhân làm giám định, bảo đảm quyền lợi của họ khi thực hiện giám định trong thời gian tới.

2. Tại Điều 5 Luật Giám định tư pháp quy định trách nhiệm của Nhà nước đối với hoạt động giám định tư pháp: “Nhà nước đầu tư, phát triển hệ thống tổ chức giám định tư pháp công lập trong các lĩnh vực có nhu cầu giám định lớn, thường xuyên để đáp ứng yêu cầu của hoạt động tố tụng; có chính sách ưu đãi tạo điều kiện thuận lợi cho tổ chức giám định tư pháp ngoài công lập phát triển”. Tuy nhiên, ngoài chính sách hỗ trợ thuế và các chính sách kêu gọi thực hiện xã hội hóa của tỉnh, Trung ương chưa có văn bản quy định cụ thể chế độ ưu đãi đầu tư trong lĩnh vực giám định tư pháp để địa phương áp dụng.
Đề nghị Bộ Tư pháp tham mưu Chính phủ ban hành các chính sách ưu đãi, tạo điều kiện thuận lợi cho tổ chức giám định tư pháp ngoài công lập phát triển.

Trả lời:
Trong thời gian qua, Bộ Tư pháp đã phối hợp với các Bộ, ngành có liên quan có kiến nghị, tham mưu, trình Chính phủ ban hành Nghị định số 59/2014/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 69/2008/NĐ-CP ngày 30/5/2008 của Chính phủ về chính sách khuyến khích xã hội hóa đối với các hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, dạy nghề, y tế, văn hóa, thể thao, môi trường, theo đó đã bổ sung lĩnh vực giám định tư pháp, theo đó các tổ chức giám định tư pháp ngoài công lập khi thành lập và hoạt động được hưởng một số chính sách ưu đãi về thuế, tiền thuê đất…
Trên thực tế, tại một số địa phương, Sở Tư pháp đã tham mưu, trình UBND cấp tỉnh triển khai thi hành Nghị định này và đưa lĩnh vực giám định tư pháp thuộc lĩnh vực được hưởng chính sách khuyến khích xã hội hóa giống như đối với các hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, dạy nghề, y tế, văn hóa, thể thao, môi trường.
Vì vậy, đề nghị các cơ quan quản lý nhà nước tại địa phương chủ động tham mưu, đề xuất thực hiện các chính sách khuyến khích xã hội hóa theo quy định tại Nghị định số 59/2014/NĐ-CP đối với lĩnh vực giám định tư pháp tại địa phương mình.

Minh Long

 


[1] Như: Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội; Bộ Nội vụ, Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch; Tổng Cục thuế - Bộ Tài chính; Ngân hàng Nhà nước Việt Nam; Bộ Y tế; Bộ Thông tin và Truyền thông; Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; Bộ Công Thương và Bộ Giáo dục và Đào tạo....Các địa phương: Đồng Tháp, Bắc Giang, Lào Cai, Hà Giang, Gia Lai...

[2] Tính từ đầu năm đến tháng 11/2016, Bộ Tư pháp đã kiểm tra 2.638 văn bản; phát hiện và ra thông báo, kết luận kiểm tra đối với 114 văn bản trái pháp luật về nội dung, thẩm quyền

[3] Đầu năm 2016, Bộ Tư pháp đã ban hành Quyết định công bố 27 văn bản hết hiệu lực toàn bộ, 21 văn bản hết hiệu lực một phần trong năm 2015

[4] Hiện còn 9/24 bộ, ngành chưa hoàn thành công bố chuẩn hóa và nhập liệu thủ tục hành chính vào CSDL quốc gia.

[5] Hiện còn 9/24 bộ, ngành chưa hoàn thành công bố chuẩn hóa và nhập liệu thủ tục hành chính vào CSDL quốc gia.