Ngọn lửa tri ân – hành trình 70 năm thắp sáng
Sign In
  • * Chào mừng Quý vị và các bạn đến với Trang thông tin điện tử Cục Công tác phía Nam, Bộ Tư pháp *

Tin hoạt động

Ngọn lửa tri ân – hành trình 70 năm thắp sáng

Ngay những năm tháng đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp, vào năm 1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chọn ngày 27/7 là ngày Thương binh toàn quốc, là dịp để những thế hệ người Việt Nam tri ân những con người đã anh dũng ngã xuống vì độc lập, tự do của Tổ quốc.

Với tinh thần trân trọng, biết ơn những người con hy sinh vì Tổ quốc, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn dành cho thương binh những tình cảm như trong gia đình, Người đã nhận con của thương binh, liệt sỹ là con nuôi. Trong thư gửi bác sĩ Phạm Đình Tụng khi được tin con trai ông hy sinh, Bác viết:Tất cả thanh niên Việt Nam là con cháu của tôi. Mất một thanh niên thì hình như tôi đứt một đoạn ruột. Nhưng cháu và anh em thanh niên khác dũng cảm hy sinh để giữ gìn đất nước”

Chính tinh thần ấy đã động viên bao lớp người xung phong ra chiến trường chiến đấu vì Tổ quốc. Rất nhiều chiến sĩ đã cống hiến tuổi thanh xuân, máu xương của mình cho độc lập tự do, để Tổ quốc trường tồn. Trong số những chiến sĩ ấy, nhiều người, sau chiến tranh, vẫn còn nằm lại nơi rừng sâu, núi thẳm; nhiều người “trở về” nhưng trắng xóa những hàng bia, không tên, không tuổi, tên các anh đã hóa thành tên đất nước; nhiều người khác, may mắn hơn, được về với mẹ, nhưng đã để lại đâu đó trên mảnh đất quê hương một phần thân thể của mình.
Mỗi năm, cứ vào ngày 27/7, Người lại viết thư, gửi quà, khi là chiếc áo, khi là những đồng lương Người đã dành dụm cho thương binh. Bác phát động phong trào “đón thương binh về làng,” “thương binh tàn nhưng không phế”..., và đã trở thành những điểm tựa cho thương binh vươn lên dù thân thể họ không còn vẹn nguyên.

Trước lúc ra đi, trong di chúc, Người căn dặn: “Đầu tiên là công việc đối với con người. Đối với những người đã dũng cảm hy sinh một phần xương máu của mình (cán bộ, binh sỹ, dân quân, du kích, thanh niên xung phong …), Đảng, Chính phủ và đồng bào ta phải tìm mọi cách làm cho họ có nơi ăn chốn ở yên ổn, đồng thời phải mở những lớp dạy nghề thích hợp với mỗi người để họ có thể dần dần tự lực cánh sinh. Đối với các liệt sỹ thì mỗi địa phương (thành phố, làng, xã) cần xây dựng vườn hoa và bia kỷ niệm ghi sự hy sinh anh dũng của các liệt sỹ, để đời đời giáo dục tinh thần yêu nước cho nhân dân ta. Đối với cha mẹ, vợ con (của thương binh và liệt sỹ) mà thiếu sức lao động và túng thiếu thì chính quyền địa phương (nếu ở nông thôn thì chính quyền cùng hợp tác xã nông nghiệp) phải giúp đỡ họ có công ăn việc làm thích hợp, quyết không để họ bị đói rét.”

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đi xa nhưng sự nghiệp tri ân các anh hùng, thương binh, liệt sĩ mà người khởi đầu vẫn được toàn dân thực hiện với lòng biết ơn và thành kính sâu sắc trong 70 năm qua.
   
   

Bạt ngàn nỗi đau: Mộ “chưa có tên”
Tháng 7 năm nay, Chi bộ Cục Công tác phía Nam – Bộ Tư pháp tổ chức Đoàn đến thăm viếng các anh chị đã anh dũng ngã xuống vì Tổ quốc tại các nghĩa trang, địa điểm lịch sử ở tỉnh Quảng Trị, cùng thắp lên những nén tâm hương tưởng nhớ đến sự hy sinh lớn lao của các anh chị cho một đất nước độc lập mà thế hệ chúng tôi đang được hưởng. 
   
   

Quảng Trị, năm xưa được coi là chiến trường khốc liệt nhất trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc. Trong chiến tranh, đã có 60.000 liệt sỹ ra đi khi tuổi đời còn rất trẻ. Họ đến từ rất nhiều vùng miền của đất nước và giờ đây cùng nằm lại trong 72 nghĩa trang lớn nhỏ trên mảnh đất Quảng Trị thiêng liêng, trong đó có 2 nghĩa trang quốc gia là Nghĩa trang Trường Sơn và Nghĩa trang Đường 9. Trên tấm bia đá trước mộ các anh khắc nhiều cái tên, mỗi một cái tên được viết lên là một người đã nằm xuống. Mỗi cái tên nối dài thêm vinh quang cho đất nước, cũng nối dài thêm nỗi đau mất người thân của hàng vạn gia đình. Đau đớn hơn cả, trong Nghĩa trang Trường Sơn và Nghĩa trang Đường 9 ở Quảng Trị có hàng nghìn ngôi mộ liệt sỹ “chưa biết tên”. Những tấm bia “chưa biết tên” không thể nói cho những thân nhân đang mòn mỏi tìm kiếm hài cốt liệt sỹ biết người nằm dưới mộ là ai, chỉ biết, máu của họ đã thấm đỏ mảnh đất này và nỗi đau của họ, của gia đình họ cũng là nỗi đau chung của mọi người dân Việt Nam.
   
   

Thành cổ – cỏ và hoa
Tháng Bảy năm nay cũng là tròn 45 năm kỷ niệm trận đánh bảo vệ thành cổ Quảng Trị, trận đánh 81 ngày đêm anh dũng (từ ngày 28/6 đến 16/9/1972) đã đi vào lịch sử. Hàng vạn anh hùng liệt sỹ đã ngã xuống ở lứa tuổi 20 để giữ từng tấc đất thiêng của thành cổ Quảng Trị.
“Trời Quảng Trị sớm nay, ráng hồng nhuộm màu đen thuốc súng,
Nhìn cờ sao ngạo nghễ, vẫn bay trong mịt mù khói bom,
Lựu đạn cùng lưỡi lê, còn một người là còn chốt vững...” Những câu thơ mộc mạc của chiến sĩ Thành cổ Nguyễn Quang Vinh cho thấy tính khốc liệt của chiến trường ngày ấy.
Thành cổ của thời vua Minh Mạng đầu thế kỷ 19 chỉ còn lại một chút cổng thành và hai bên tường bởi số lượng bom đạn Mỹ ném xuống đây bằng 7 quả bom nguyên tử. Thành Cổ bị san phẳng cùng hàng ngàn chiến sĩ đã ngã xuống.
Sáng Thành Cổ giữa những ngày hè tháng 7 không ồn ào mà lặng lẽ theo mỗi bước chân chúng tôi, những cán bộ, đảng viên Cục Công tác phía Nam - Bộ Tư pháp. Tượng đài Thành Cổ sừng sững nghiêm trang trong khu di tích giữa vi vút gió từ sông Thạch Hãn thổi vào. Những lá thư, những di vật các anh để lại không khỏi làm chúng tôi ngậm ngùi.
   
   

"Đò lên Thạch Hãn ơi... chèo nhẹ.
Đáy sông còn đó bạn tôi nằm.
Có tuổi hai mươi thành sóng nước.
Vỗ yên bờ, mãi mãi ngàn năm"
Hôm nay, dòng sông Thạch Hãn vẫn trong xanh giữa vời vợi mây trời như chưa từng nhuốm đỏ màu máu của các chiến sĩ trẻ năm xưa. Bao chiến sĩ đã vĩnh viễn nằm lại dưới đáy dòng sông. Nhưng Tổ quốc sẽ không quên các anh, nhân dân sẽ không quên các anh dù khúc tưởng niệm có thể chỉ diễn ra bằng một nghi thức giản dị mỗi năm một lần.
Vũng Rô – điểm cập bến của Đoàn tàu không số
Cũng trong hành trình 70 năm thắp sáng ngọn lửa tri ân, Đoàn chúng tôi đã đến Vũng Rô (Phú Yên) – một trong những bến quan trọng của Đường Hồ Chí Minh trên biển, nơi đã tiếp nhận hàng trăm tấn vũ khí do những con Tàu Không số vận chuyển từ miền Bắc chi viện cho chiến trường Miền Nam Trung bộ và Tây Nguyên trong những năm kháng chiến chống Mỹ.
“Lập lòe trời chớp Vũng Rô
Mây che Hòn Yến, gió vô Chóp Chài”
   
   

Trong Phòng truyến thống của Lữ đoàn 125 Hải quân anh hùng, chúng tôi còn được đọc thấy “Trong vòng chưa đầy hai tháng, từ giữa tháng 11/1964 đến đầu tháng 2/1965, Tàu 41 Đoàn 125 Hải quân do Thuyền trưởng Hồ Đắc Thạnh và chính trị viên Trần Hoàng Chiếu chỉ huy đã ba lần cập bến cảng Vũng Rô thành công. Riêng chuyến tàu thứ tư cấp bến đêm 15/02/1965, sáng hôm sau bị địch phát hiện. Thực hiện mệnh lệnh của cấp trên Bằng bất cứ giá nào cũng không để địch cướp tàu và để đảm bảo bí mật, an toàn cho Đường Hồ Chí Minh trên biển, ta đã phải phá hủy con Tàu Không Số cho chìm xuống biển tại Bãi Chùa”.
Đã 70 năm kể từ Ngày Thương binh-Liệt sỹ 27/7 lần đầu tiên được phát động, cả nước vẫn một lòng hướng về thương binh, liệt sỹ với lòng biết ơn sâu sắc. Vẫn còn những ngôi mộ “chưa biết tên”, vẫn còn liệt sĩ nằm đâu đó trên dải đất hình chữ S, vẫn còn những hồ sơ người có công chưa được giải quyết, vẫn còn những chiến sĩ trở về mang trong mình vết thương chiến tranh mưu sinh khó khăn... Mỗi chúng tôi nguyện sẽ tiếp tục có những hoạt động tri ân, chung tay chăm sóc tốt hơn, chu đáo hơn đối với những người đã hy sinh một phần cho Tổ quốc.
 
   
   

Từ miền Nam xa xôi, trong hành trình, Đoàn chúng tôi còn đến thắp hương, dâng hoa tưởng nhớ Đại tướng kính yêu Võ Nguyên Giáp - người học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, người anh cả của Quân đội Nhân dân Việt Nam, người con ưu tú của quê hương Quảng Bình tại Vũng Chùa – Đảo Yến.

Minh Long